Đang tải dữ liệu...
ChúngTa.com.NET CommunityHanoi Software JSCDoanh nhân 360
Home
 
Suy ngẫm
 
Giáo dục
 
Trải nghiệm Trưởng thành
 
Kinh doanh
 
CNTT
 
Góc Giải trí
 
Tác giả
   Thực trạng GD phổ thông    Thực trạng GD đại học    Thực trạng thi cử    Cảm nghĩ    Đề xuất Giải pháp
Tìm bài viết
Tìm kiếm nâng cao
Đọc nhiều nhất
Thấy gì qua lối sống sinh viên thời nay?
Khi sinh viên “vùi mình” vào game, vào sex…
Harvard bàn về khủng hoảng giáo dục đại học VN
Các trường Đại học danh tiếng nhất thế giới năm 2009
Xin nhớ đừng viết hình này vào bài kiểm tra
Hơn 50% sinh viên không… hứng thú học tập
Gióng hồi chuông về phương pháp học đại học
Giải pháp nào cho giáo dục đại học?
Bộ mặt mới của đại học Việt Nam?
“Giáo dục nhồi nhét thì dẫn đến “vô văn hóa”
Học trò thời nay năng động hơn nhưng không chịu học!
Công bằng xã hội trong giáo dục Đại học
Sinh viên ta mắc “bệnh” thụ động trong học tập!
Đại học: Tiền không mua được đẳng cấp
Thống kê
Số lượt truy cập: 59.909.121
Số người trực tuyến: 581
Trang chủ  >  Giáo dục  >  Thực trạng GD đại học

Hơn 50% sinh viên không… hứng thú học tập

Mai Minh
Dân Trí
   
08:32' AM - Thứ sáu, 26/09/2008

Một nghiên cứu mới đây của PGS.TS Nguyễn Công Khanh, trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã chỉ ra một loạt các con số về phong cách học của sinh viên và trong đó, có không ít con số rất “giật mình”.

Theo PGS.TS Nguyễn Công Khanh, mỗi sinh viên (SV) lớn lên trong môi trường văn hoá, xã hội khác nhau, hình thành những thói quen, cách suy nghĩ, các năng lực nhận thức, hứng thú cũng khác nhau. Điều này tạo nên sự đa dạng và sự phong phú về phong cách học, một số SV học tập tích cực, chủ động, một số khác lại tỏ ra thụ động, thích im lặng ngồi nghe hơn là tranh cãi.

Cũng từ đó, ông Khanh đã dùng các con số của mình để trả lời các câu hỏi: Phong cách học tập của SV có môi liên hệ như thế nào đến thành tích học tập? Những phong cách học tập nào giúp SV dễ dàng gặt hái sự thành công học đường? Có sự khác nhau đáng kể về phong cách học tập giữa SV học các ngành học khác nhau?...

64% chưa tìm được phương pháp học phù hợp với đặc điểm nhận thức của cá nhân

Mẫu điều tra SV được chọn theo phương pháp phân tầng theo cụm bán ngẫu nhiên gồm 448 SV của 4 khoa: Toán, Lí, (182 SV Đại học khoa học tự nhiên), Văn và Sử (266 SV Đại học khoa học xã hội và nhân văn).

Cấu trúc của mẫu phân theo giới tính gồm 155 SV nam (chiếm 34,6%) và 293 SV nữ (chiếm 65,4%).

Cấu trúc của mẫu phân theo năm học: năm thứ hai 247 SV (55,1%); năm thứ ba 171 SV (38,2%); năm thứ tư 30 SV (6,7%).

Có 55,9% SV thường suy ngẫm để tìm ra các phương pháp học phù hợp và hiệu quả khi học các loại tài liệu khác nhau tuỳ theo mục đích và hoàn cảnh cụ thể.

Có 68,2% SV thường suy nghĩ về cách học, cách thức tự quản lí việc học của mình sao cho hiệu quả.

Có 50,9% SV cho rằng mình tự học hiệu quả nhờ biết kết hợp các phương pháp học khác nhau phù hợp với nhiệm vụ học tập cụ thể.

Nhưng chỉ có 29,2% SV cho rằng mình đã lập thời gian biểu học tập và cố gắng thực hiện đúng thời gian biểu; và cũng chỉ có 36% SV được khảo sát cho rằng mình đã tìm được những phương pháp học phù hợp với đặc điểm nhận thức của cá nhân và tất nhiên 64% sinh viên còn lại là mơ hồ về phương pháp học.

Hơn 36% SV thích “ngậm hột thị” trong thảo luận

Cũng trong nghiên cứu của mình, PGS Nguyễn Công Khanh đã chỉ ra rằng: 40% SV được khảo sát học theo kiểu khám phá: đặt câu hỏi, đưa ra giả thuyết, tìm kiếm thông tin, bằng chứng để chứng minh hay bác bỏ giả thuyết. Đây chính là nhóm SV đã tìm được cho mình các chiến lược học tích cực, phù hợp và hiệu quả.

“Tiếc rằng nhóm SV này chiếm một tỉ lệ khá khiêm tốn. Còn một bộ phận khá đông SV chưa tìm được cho mình các chiến lược học tích cực, hiệu quả” - ông Khanh nhận xét.

Về tinh thần tích cực và năng động của sinh viên, ông Khanh cũng cảm thấy rất đáng tiếc khi có tới 36,1% biểu lộ phong cách học thụ động: ngại nêu thắc mắc, ngại nói ra ý tưởng riêng của mình trong các cuộc thảo luận trên lớp; Có 22,9% SV chỉ thích giáo viên giảng cho mình nghe hơn là chủ động hỏi, nêu thắc mắc (chưa kể 42,7% SV cũng có quan điểm gần gần như vậy);

41,1% cho rằng mình học chủ yếu từ vở ghi, giáo trình và ít có thời gian tìm đọc những tài liệu tham khảo; 31,4% số SV được khảo sát cho rằng các chiến lược học của mình hướng vào việc nắm kiến thức hơn là phát triển các năng lực tư duy.

SV mong muốn gì ở giảng viên?

Những con số "đáng sợ" khác:

- Hơn 50% SV được khảo sát không thật tự tin vào các năng lực/ khả năng học của mình.

- Hơn 40% cho rằng mình không có năng lực tự học;

- Gần 70% SV cho rằng mình không có năng lực tự nghiên cứu;

- Gần 55% SV được hỏi cho rằng mình không thực sự hứng thú học tập.

Làm nên sự thụ động của sinh viên, lỗi chính là ở giảng viên. Bởi theo PGS Khanh, đa số SV được khảo sát mong muốn giảng viên áp dụng các phương pháp dạy học tích cực để tích cực hoá người học trong các giờ học.

Có 88,8% SV muốn các bài giảng của giảng viên gồm cả những tri thức mới không có trong giáo trình;

73,3% SV thích được giảng viên giao làm những bài tiểu luận để giúp họ phát triển khả năng suy nghĩ độc lập, tư duy phê phán;

82,4% SV thích giảng viên hỏi, khuyến khích SV đặt câu hỏi, hướng dẫn SV đào sâu suy nghĩ để hiểu bản chất hơn là thuyết trình suốt cả tiết học;

85,6% SV muốn khi bắt đầu mỗi môn học, giáo viên nêu yêu cầu, hướng dẫn phương pháp học, tài liệu tham khảo và cách khai thác thông tin từ các tài liệu tham khảo này;

79,2% SV mong muốn các môn học có nhiều giờ tự học (có hướng dẫn và giải đáp thắc mắc) hơn so với hiện nay.

Tuy nhiên, khi đưa ra con số chỉ có 34,7% SV thích hỏi và đưa ra những quan điểm của cá nhân, ông Khanh có dự báo rằng những đổi mới về phương pháp dạy và học theo hướng tích cực hoá người học có thể sẽ gặp những khó khăn đáng kể do nếp nghĩ và các thói quen học thụ động đã định hình ở một bộ phận lớn SV hiện nay.

SV yếu nhất ở các nhóm: Kĩ năng thuyết trình, kĩ năng làm việc theo dự án, kĩ năng sử dụng máy vi tính, kĩ năng viết báo cáo tham luận, kĩ năng vận dụng vào thực tế.

SV mạnh hơn ở các nhóm kĩ năng: Phân tích và giải thích, giải quyết vấn đề, nghe ghi và hiểu bài giảng.

SV mạnh nhất ở các nhóm năng lực: Làm việc độc lập, tự học, nắm vững kiến thức chuyên ngành và yếu nhất ở các nhóm năng lực: tư duy sáng tạo, sử dụng công nghệ thông tin hỗ trợ học tập, năng lực ngoại ngữ. (PGS.TS Nguyễn Công Khanh)

Số lượt đọc:  9931  -  Cập nhật lần cuối:  26/09/2008 08:35:40 AM
    5
Một sinh viên Việt Nam học tập tại Hà Lan nói lên ý kiến và mong muốn đưọc giúp đỡ để thực hiện nghiên cứu về giáo dục đại học Việt Nam
Vũ Lan Anh  - Email:  v.lananh@yahoo.com   (12/11/2009 11:59:21 PM)
Tôi là một sinh viên đang học thạc sĩ quản trị kinh doanh tại Hà Lan. Có rất nhiều lý do dẫn tôi đến đất nước này, một lý do rất quan trọng mà nhiều người có thể đoán được là sự hạn chế về phát triển tư duy trong chương trình học đại học của tôi. Nhìn vào những con số trên, tôi có thể tự nhìn thấy mình trong đó. Đầu tiên, tôi là người luôn mong muốn sụ chủ động trong học tập, sự đổi mới và sáng tạo khi tư duy về mọi vấn đề. Là một sinh viên ĐH kinh tế quốc dân, trong chương trình học, một vài giáo viên trẻ nhưng có trình độ cao và tư duy rất đổi mới đã tạo động lực học tập cho tôi rất nhiều, nhưng rất nhiều giao viên tôi đã từng học đều duy trì phương pháp học bị động và ngại thay đổi.

Những đề xuất của sinh viên với chương trình học hoặc những câu hỏi của sinh viên đều không được thoả mãn. Do đó làm giảm mong muốn học tập của sinh viên.

Thứ hai, tôi đã không xác định rõ phương hướng công việc sau khi ra trường, tôi không thể phủ nhận mình là người bị động trong vấn đề này. Khi còn học đại học, tôi vẫn thường nghĩ rằng - học được thì sẽ làm việc được, nhưng khi có nhiều kinh nghiệm hơn tôi nhận ra la muốn thành công trong công việc không chỉ cần đến tấm bằng đại học mà còn cần đến sự trải nghiệm thực tế, tư duy mà tôi phát triển trong trường đại học Việt Nam không hữu ích nhiều lắm khi làm việc.

Trong trường đại học của tôi, các bạn cùng lớp rất nhiều trong số họ có xu hướng học hành là gánh nặng và chỉ học khi kỳ thi tới. Trên thực tế, không chỉ do chương trình học không lôi cuốn họ, mà dường như nhiều sinh viên không thục sụ có đam mê với ngành mình theo hoc, họ học theo tên trường, theo điểm đầu vào, học theo cha mẹ mong muốn. Nhiều người không có đam mê với một môn khoa học nào. Đó không phải là tất cả tính cách của sinh viên trường tôi, nhưng đó là những gì tôi cảm nhận tù rất nhiều bạn bè xung quanh sau 4 năm đại hockj

Tôi muốn đưa ra ý kiến của người trong cuộc về những gì đang diễn ra bên trong các trường đại học.
Khi sang đến đất nước này, điều tôi thích thú là sinh viên là trung tâm của trường đại học, chư không phải giáo viên hay bộ máy quản lý. Sinh viên nói luôn có người lắng nghe, và từ những bài tâp nhỏ cho đến dự án nghiên cứu lớn đều có nhũng định hướng và giúp đỡ của giáo viên mọi lúc sinh viên cần. Nói cách khác, khoảng cách giữa giáo viên và sinh viên, khoảng cách giữa trường học và thực tế khá nhỏ.

Tôi đã quyết định thực hiện một nghiên cứu về những đổi mới về giáo dục đại học cần thực hiện trước mắt và muốn suy nghĩ về định hướng phát triển của những trường đại học dân lập tại Việt Nam. Những năm gần đây, thực sự họ đã tạo ra một chút môi trường cạnh tranh cho giáo dục Việt Nam. Đọc được bài nghiên cứu này, tôi thực sự thấy hữu ích cho công trình nghiên cứu của mình. Tôi có mong muốn toà soạn giúp đỡ cho tôi có thể liên lạc với người đã thực hiện nghiên cứu này - PGS.TS Nguyễn Công Khanh - ĐH Sư phạm Hà Nội. Mong toà soạn giúp đỡ cho một sinh viên Việt Nam như tôi có thể hoàn thành một nghiên cứu cá nhân một cách độc lập, chứng tỏ được khả năng với bạn bè quốc tế, qua đó thể hiện sự quan tâm của mình với sinh viên trẻ. Nghiên cứu của tôi khi hoàn thành có thể ứng dụng một phần nhỏ cho một vài trường đại học cũng không lớn ỏ Việt Nam, nhưng nhiều sinh viên như tôi hi vọng có thể làm nên điều gì khác biệt cho giáo dục Việt Nam. Mọi sụ thay đổi đều có bước khởi đầu khó khăn. Tôi hi vọng nhận được giúp đỡ. Tôi xin chân thành cảm ơn.

Thân ái.
Vũ Lan Anh
Deventer, The Netherlands.
12/11/2009
Sinh viên với công tác học tập
minh hai  - Email:  minhhai070690@yahoo.com   (21/10/2009 06:27:12 PM)
Sản phẩm của giáo dục hay lỗi tại sinh viên. Bài toán xưa cũ trong giáo dục là câu hỏi của toàn xã hội. Đã bao lần ta đổi mới giáo dục nhưng vẫn chưa lần nào hoàn chỉnh. Đại học ngày nay mở không vì mục đích giáo dục mà là kinh doanh, câu hỏi cũ chưa có lời giải, câu hỏi mới lại mọc lên.
Nguyên nhân chán học
nguyễn thị phuong  - Email:  linhdong.phuong@yahoo.com.vn   (14/04/2009 02:37:32 PM)
Tôi cũng có một số nguyên nhân về việc sinh viên chán học như sau:

- Các môn học nghiêng về lý thuyết nhiều thì quá khô khan, nên sinh viên không nhồi được vào đầu
Sv không biết môn học này có ý nghĩa gì đối với nghành học, vì tôi thấy sinh viên hỏi những câu như: tại sao mình học cái này mà lại đi dạy môn đó làm gì, thừa, lạc đề" Và thế là sv chán thậm chí không thèm học môn đó

- Một số sv coi trọng bề ngoài của mình,mất nhiều thời gian sửa soạn, chăm sóc nhan sắc thì thời gian học còn đâu

- Giành nhiều thời gian chơi bời, bè bạn, sinh nhật, tiệc tùng.. Vì thế nghĩ đến học là chán chường, đi chơi sướng hơn

- Và những lí do mà trên đóng góp nữa.

SV cần được hương nghiệp nhiều hơn trong trường lớp, giáo dục vế đạo đức sâu hơn. Nhiều sv chăm chỉ học những kiến thức trong giáo trình nhưng vì lí do kinh tế mà quá hà tiện không mua sách báo, không lên net, nên không hứơng nghiệp cho họ, họ cũng sẽ không biết gì để định hướng cho bản thân.
Vấn đề SV không hứng thú học tập
Ngoc Hoan  - Email:  ngochoan@virgotek.vn   (11/04/2009 11:42:01 PM)
Tại sao sinh viên hiện nay không hứng thú học tập khi mà học tập là "Một phần tất yếu trong cuộc sống" của họ?

Phải chăng sinh viên "ngày nay" và sinh viên "ngày xưa" rất khác nhau và chính sự khác nhau này tạo nên hiện trạng như vậy?

Thực trạng sinh viên hiện nay không hứng thú trong học tập có rất nhiều nguyên nhân. Chúng ta thử điểm qua một vài nguyên nhân như sau:

1. Học không có mục đích: đại đa số các sinh viên khi được hỏi tại sao lại chọn chuyên ngành này để học? Thì câu trả lời nhận được đa số là do sở thích nhưng khi được hỏi tiêu chí nào chỉ ra việc sinh viên thích ngành học đấy thì câu trả lời là con số không tròn trĩnh.

Tiếp nữa đại đa số các sinh viên khi được hỏi mục tiêu và kế hoạch khi tốt nghiệp thì chỉ khoảng 5% có câu trả lời rõ ràng cho câu hỏi đó.

2. Không có sự tác động đúng đắn và kịp thời: khi sinh viên còn đang theo học, họ luôn nhận được những bài tập, những đề tài, ... và được yêu cầu phải hoàn thành trong khi họ tìm kiếm sự trợ giúp từ phía Giáo viên và nhà trường thì gần như được đáp lại rất ít so với những gì họ mong đợi và họ cần. Họ luôn được hô hào và khuyến khích nghiên cứu khoa học, xây dựng đề tài, ... Tuy nhiên, cái mà họ cần không phải những đợt sóng hô hào, khuyến khích suông như vậy từ phía nhà trường. Cái mà họ cần trong trường hợp này chính là việc làm gương của chính những người làm công tác GD và đang trự tiếp giảng dạy họ, nhưng sự thực thì ngược lại. Chính tình hình như vậy dẫn đến tình trạng như một làn sóng dội lên rồi nhanh chóng tan biến. Có chăng chỉ le lói sự đối phó hay sự hứng khởi nhất thời mà thôi.

3. Không có phương hướng: sinh viên tại sao không quyết định hay thậm chí mang tính chất biết được mình sẽ làm gì sau khi ra trường? Học thế nào để đạt kết quả tốt nhất? Nên học và nghiên cứu những gì thì phù hợp với xu thế thời đại và thời điểm hiện tại?

Họ cần có những người có trách nhiệm cho họ những phương hướng cụ thể hay nói cách khác họ cần có người phân tích cho họ thấy rằng họ đang học để làm gì, đã và chưa làm được những gì, nên học gì và làm gì trong thời điểm hiện tại.

Sinh viên thậm chí còn chưa hiểu đúng về chuyên ngành của mình học, chưa hiểu được công việc hay nói cách khác là những gì mình học sẽ áp dụng thế nào trong tương lai khi họ tốt nghiệp ra trường và đi làm?

4. Xã hội hiện nay có quá nhiều cám dỗ khiến họ đang dần bị kéo xa ra khỏi trường lớp mà đến gần với những "hoạt động" mà theo họ đó là quan hệ xã hội. Vậy trước tình trạng như vậy, nhà trường và các nhà chức trách có trách nhiệm thế nào và tác động ra sao đến bản thân sinh viên để giúp họ có thể đứng vững và yên tâm học tập?

5. Môi trường học tập và quan hệ của chúng ta hiện nay trong nhà trường chưa thức tỉnh được những điểm mạnh trong sinh viên. Môi trường học thụ động theo kiểu Giáo viên cứ giảng cho hết bài, sinh viên cứ ngồi cho hết giờ đang hàng ngày diễn ra trong môi trường mà ta gọi là lớp học, là nhà trường.

6. Một vấn đề rất quan trọng nữa là việc xu thế từ trước đến thời gian gần đây là "Đào tạo con người theo hướng toàn diện" nghĩa là cố gắng trang bị cho họ hầu như tất cả các kiến thức để họ trở thành những con người "toàn diện" nhưng sự thực thì họ hầu như không biết gì. Tại sao?

Để trả lời câu hỏi, chúng ta thử điểm qua nền Giáo dục của các nước phương Tây. Tại các nước phương Tây, chủ trương Giáo dục của họ là "Đào tạo những gì xã hội cần" hay nói cách khác "Xã hội cần gì đào tạo đấy", vậy nghiễm nhiên phải chăng họ không được gọi là một con người "toàn diện"? Nhưng sự thức họ đã hơn hẳn sinh viên chúng ta về sự chuyên sâu và chuyên nghiệp trong học tập cũng như trong công việc sau khi tốt nghiệp ra trường.

Quay trở lại với vấn đề sinh viên tại VN, họ làm sao có được sự chuyên sâu, họ làm sao có được sự chuyên nghiệp khi mà hàng ngày họ phải "ngốn" một khối lượng kiến thức khổng lồ mà thực chất hầu như chưa giúp ích được gì cho họ tại thời điểm hiện tại. Có cahwng chỉ đảm bảo sinh viên được điểm cao nếu chịu khó học nhưng sự thật thì số sinh viên chịu khó học quá ít vì bản chất số lượng môn học và nội dung chương trình học không cho họ sự hứng khởi và chuyên sâu để học bớt ngại khi phải nghiên cứu nhiều vấn đề cùng một thời điểm.

Trên đây chỉ là một số trong vô vàn những nguyên nhân dẫn đến tình trạng "Không hứng thú trong học tập" của sinh viên chúng ta.

Thiết nghĩ chúng ta nên có những đổi mới trong cơ chế, quy định và quan trọng hơn là đường lối, phương hướng thích hợp và thực tế hơn.
Đóng góp ý kiến về dinh dưỡng
Nguyễn Cường  - Email:  phucuong@pacbell.net   (03/03/2009 08:04:43 AM)
K/G ChúngTa,

Qua bài viết của GS TS NCKhanh có thống kê về năng lực của SV VN như sau:

- Gần 70% SV cho rằng mình không có năng lực tự nghiên cứu;Gần 55% SV được hỏi cho rằng mình không thực sự hứng thú học tập.

Tôi có thể khẳng định với quí vị nhựng nguyên nhân chính đưa đến hậu quả như trên:

- 30% do phương pháp dạy học của GDVN ngay từ cấp I và II đã không huấn luyện cho HS.

- 20% do môi trường xã hội vì thiếu nhiều phương tiện như tài chánh, sách vở thư viện hay ngay cà các vị GS cũng không làm nhiều công việc tự nghiên cứu.

- 50% còn lại nhưng rất quan trọng và ít ai nghĩ đến
lá vấn đề ăn uống suy dinh dưỡng. Xin nhấn mạnh đa số không phải vì nghèo đói hay thiếu ăn, ăn không no, mà vì bị lệ thuộc vào văn hoá ẩm thực thiếu dinh dưỡng của người VN, nhất là thiếu kiến thức về dinh dưỡng!.

Nếu chế độ dinh dưỡng hàng ngày của SV VN thiếu quá nhiều các Sinh tố (B) và một số khoáng chất thì não bộ sẽ không tăng trưởng kịp thời hay cung cấp đủ năng lượng cho các "tế bào bộ nhớ" làm việc. Hậu quả là SV sẽ cảm thấy không thích học hỏi hay "lười" suy nghĩ. Xin nhấn mạnh đây là quá trình về vật lý và tâm sinh lý, không phải là thuần về tâm lý hay thói quen!
 
(Hãy gõ tiếng Việt có dấu bằng chế độ gõ tiếng Việt dưới đây (hoặc trình tiếng Việt Unikey, Vietkey của máy bạn) để ý kiến của bạn sớm được đăng )
Đa số SV mong muốn giảng viên áp dụng các phương pháp dạy học tích cực.
Bài mới:  
Bài khác:
Thực trạng GD đại học
Thấy gì qua lối sống sinh viên thời nay?
Khi sinh viên “vùi mình” vào game, vào sex…
Harvard bàn về khủng hoảng giáo dục đại học VN
Các trường Đại học danh tiếng nhất thế giới năm 2009
Trang chủGiới thiệuLiên hệ