Đang tải dữ liệu...
ChúngTa.com.NET CommunityHanoi Software JSCDoanh nhân 360
Home
 
Suy ngẫm
 
Giáo dục
 
Trải nghiệm Trưởng thành
 
Kinh doanh
 
CNTT
 
Góc Giải trí
 
Tác giả
   Quan sát, khám phá    Cách giải thích, lý giải    Ý nghĩa - giá trị    Thời sự - Hành động    Ngẫm nghĩ Việt Nam    Điểm sách hay
Tìm bài viết
Tìm kiếm nâng cao
Thống kê
Số lượt truy cập: 60.183.072
Số người trực tuyến: 470
Trong đó có 1 thành viên: La Bàn
Bạn đọc đến từ đâu?

Bạn đọc của ChúngTa.com đến từ đâu?

Kỳ 1

Hành trình nhận thức duy niệm của nhân loại

Nguyễn Hoàng Đức
Chungta.com
   
11:39' AM - Thứ tư, 25/02/2009

Dẫn nhập đề

1. Tại sao tôi muốn viết cuốn chuyên luận về triết học này?

Người Việt nói riêng, người châu Á nói riêng rất ngại dính mắc vào những vấn đề của triết học. Phần lớn cho rằng, triết học bao gồm những cặp phạm trù khô khan, phức tạp, khó hiểu, chẳng liên quan gì mấy đến cuộc đời nhãn tiền tươi rói, tinh khôi, thực chứng sức sống đang ào ạt tuôn chảy hồn nhiên trào ra khỏi mọi khuôn thức cứng nhắc – mô phạm của triết lý. Và nhiều người hầu như an nhiên tận hưởng bất chấp triết học, cuộc đời vẫn sống, mọi khoa học vẫn phát triển, và mọi nghệ thuật vẫn sum suê đâm cành, nảy lộc.

Nhưng không hẳn vậy. Tôi viết cuốn sách này dựa trên một tiền đề rất chắc chắn, đó là bằng chứng thật của cuộc sống. Thực tế cho thấy có và có rất nhiều những cuộc hội thảo đã diễn ra trong thế kỷ XX. Khi hai nền văn hóa Đông – Tây đã hội nhập, khám phá lẫn nhau, trước mỗi hội nghị bàn về đề tài cụ thể như môi trường, văn hóa, xã hội, y học, vật lý… mỗi đại biểu đều được phát trước một chiếc thẻ phát biểu ý kiến nhưng từ hội nghị này đến hội nghị kia, dường như thói quen đã biến thành thông lệ, thông lệ đã biến thành định kiến khó cải thiện cũng như gột sạch, đó là các đại biểu của bùng châu Á như Trung Quốc, Nhật Bản hầu như chẳng đưa ra ý kiến nào cụ thể có tính đề tài (thétique) hay chức năng, hay chuyên luận; mà nói chung hội nghị nào cũng như hội nghị nào, họ đều chung chung đưa ra những ý kiến không mũi nhọn, trung dung, vô thưởng vô phạt, trong âm có dương, trong dương chứa âm, thế này cũng không tốt, thế kia cũng chẳng hay, mà chúng ta nên tiến hành một khoa học bao gồm toàn thể. Cụ thể, sau khi giật giải Nobel trên tờ NewYorker (02/1995), nhà văn Nhật Bản Kenzaburo Oe cho rằng: “Ngay cả ngày nay, sau 125 năm công cuộc hiện đại hóa của chúng ta, thì trong con mắt của người châu Âu và châu Mỹ, giá trị của chúng ta vẫn bị thờ ơ. Những người đoạt giải Nobel khác như Milosz, Walcott, Brosky được nhiều người biết đến; còn chúng ta, người phương Tây chẳng khao khát tìm đọc những con người sản xuất xe Honda nhiều lắm. Tôi không hiểu tại sao. Có lẽ chúng ta chỉ là người bắt chước họ hoặc là với con mắt của người châu Âu, chúng ta CHỈ LÀ NHỮNG NGƯỜI THỦ VAI IM LẶNG.

Tình trạng của người Nhật Bản khá là trầm trọng. Ở Mỹ chẳng hạn, tôi thấy nhiều bạn bè tôi lo ngại về đời sống trí tuệ của người dân Mỹ, mặc dù vậy, tôi thấy rất nhiều người thể hiện tính cách độc lập trong suy nghĩ của họ và cũng đầy vi tế trong cư xử cũng như tìm cách thể hiện ý tưởng của mình. Ở Nhật thì đời sống văn hóa quá ư đơn giản, hầu như toàn bộ cách sống của xã hội là xoay quanh phương tiện truyền thông và chỉ có vậy. Và chúng ta rất hiếm khi được nghe thấy ý tưởng của một nhà tư tưởng hay một học giả.” Và Oe mong rằng: Đến một ngày nghệ thuật Nhật Bản sẽ đánh rơi cái đặc tính hàm hồ, tối tăm cố hữu của nó, để vén lộ khả năng đối mặt thật sự với cuộc sống của con người.

Tình trạng đó thật phổ biến ở châu Á. Nó diễn ra bởi chúng ta chìm trong chế độ phong kiến quá lâu. Ở đó, một quân vương có thể chưa biết mặc quần đã lãnh trị cả trăm triệu người. Mỗi lời đánh rơi khỏi miệng dù thanh hay tục đều trở thành thánh chỉ. Mọi người chỉ có mỗi một lựa chọn là rập đầu tuân thủ. Xem một loạt phim về các triều đình phong kiến Trung Quốc, mọi người thường chứng kiến (một cách sử cố) mỗi khi gặp khó khăn, vua triệu quan đại thần đến xin ý kiến, thì chỉ được nghe: “Bệ hạ sáng suốt, xin quyết định! Thần u mê không dám – không hiểu”. Rất hiếm khi, có một quan đại thần trình tấu quan điểm thì các quan lại ào ào phản đối. Vua mới bảo: “Tại sao khi trẫm hỏi, các khanh chẳng ai có ý kiến, đến khi người khác trình bày ý kiến thì lại xúm vào bôi bác?” Đó là một đời sống đã tê liệt mọi ý kiến xây dựng mà chỉ còn duy trì cách thức bôi bác, bẻ hành bẻ tỏi, phá hủy mọi cố gắng tiến về phía trước. Chính vì căn bệnh trầm kha đó mà khi đối mặt với phương Tây, triều đình Mãn Thanh ấu trĩ đến mức thán phục vài khẩu súng như bảo bối thần linh và sớm tan rã. Và lãnh tụ Tôn Trung Sơn, cha đẻ của chủ nghĩa tam dân – lý thuyết cách mạng cho dân tộc Trung Hoa, đã nhìn thấu cố tật “vừa bé vừa nhỏ” của một dân tộc lớn như sau: “Cái mà người Trung Quốc sùng bái nhất là chủ nghĩa gia tộc và chủ nghĩa tông tộc. Trung Quốc không có chủ nghĩa quốc tộc” (1).

Tác giả: Nguyễn Hoàng Đức

- Sinh năm 1957, học đại học An Ninh
- Anh là một người khác thường mà nhà thơ Đỗ Minh Tuấn gọi là "Anh hề triết học, chàng Đông-ki-sốt văn chương"

Tác phẩm đã in
1. Ý hướng tính văn chương. Chuyên luận và 9 cuốn khác.

Tác phẩm sắp in
1. Ngưỡng cửa làm người (tiểu thuyết, 2 tập, và 12 cuốn khác)
2. Người Việt Nam tự ngắm mình (chuyên luận)
3. Hành trình nhận thức duy niệm của nhân loại (chungta.com đăng nhiều kỳ)
4. Hành trình tâm linh nhân loại (chuyên luận, chungta.com đăng nhiều kỳ)
5. Công lý và Dục vọng (chungta.com đăng nhiều kỳ)
6. Quan phẩm và Nhân phẩm (chungta.com đăng nhiều kỳ)
7. Tự do nền móng thiết yếu của con người (chungta.com sẽ đăng nhiều kỳ)

Xem trang Tác giả...

Chúng ta thử đặt câu hỏi: một dân tộc lớn lại chỉ sống như gia tộc và tông tộc thì có co hẹp biên giới quốc gia thành rào giậu của gia đình? Và tại sao thế, liệu có phải do thiếu một tư tưởng được xây nên từ sinh hoạt triết học thường xuyên?

“Con người là động vật có lý trí” (Aristotle). Bởi thế tinh thần càng cao, con người càng xa rời biên giới của muông thú. Trái lại, nếu con người chỉ tìm cách sống hơn nhau trong phẩm trật, quần áo, tiền bạc thì cũng chẳng vượt gì hơn trong nấc thang giá trị con người. Trong phim “Mười ba đời vua nhà Thanh” có đoạn thời vua Đồng Trị, Từ Hy thái hậu chỉ nhìn thấy hai nô tì gái chải đầu đẹp giống mình, đã nổi máu ghen tị lôi ra chém. Than ôi, làm đến Hoàng thái hậu, quần áo trang sức hơn nô tì một trời một vực, vậy mà tâm hồn cũng chỉ là thứ ngang nô tì. Tại sao vậy? Vì phẩm chất tư tưởng còn thấp kém nên dù có xúng xính lụa là châu báu cũng chẳng cải thiện nổi cho mình thoát ra ranh giới kẻ hầu! Và Tôn Trung Sơn cũng đã chỉ ra cái yếu kém của dân tộc Trung Hoa, chưa từng có chiến tranh về tư tưởng hay tôn giáo, chỉ có mối bận tâm về gia tộc: “Người Trung Quốc chỉ có các nhóm gia tộc và tông tộc, không có tinh thần dân tộc. Do đó, tuy có một Trung Quốc do bốn trăm triệu người kết thành, trên thực tế chúng ta là một mảng cát rời rạc. Chúng ta là một nước nghèo nhất, yếu nhất trên thế giới hiện nay, có địa vị thấp nhất trên trường quốc tế.”(2) Ông còn rất lo ngại rằng: “Vì người Trung Quốc phần đông là bất tri bất giác, e rằng vài nghìn năm nữa toàn thể nhân dân vẫn chưa biết giành dân quyền”(3).

Bàn về Trung Quốc và Nhật Bản, những nước lớn nhất, giàu nhất châu Á để chúng ta có cơ sở tham chiếu đời sống tư tưởng của dân tộc. Trong những nghiên cứu mới nhất về văn hóa dân tộc, nhà văn hóa Hữu Ngọc đã đưa ra một nhận định cảnh tỉnh hết sức thao thức rằng: Chúng ta đã có nhiều kiểu mẫu anh hùng lớn, chiến sĩ giỏi nhưng rất đang thiếu đức hạnh công dân.

Đức hạnh công dân là gì? Có phải chúng ta vẫn đang sống “đèn nhà ai, rạng nhà nấy”. Lo vun vén thói ích kỷ, lối tiểu nông, làm sao có thể xây dựng một xã hội hiện đại – công bằng – bác ái? Theo các triết gia, thì bản chất của bản năng, tình cảm, giác quan đều có xu hướng co cụm, ích kỷ, tiến đến kéo bè kéo cánh, địa phương chủ nghĩa. Chỉ có lý trí mới tìm đến tiếng nói chung, và muốn vậy buộc nó phải vượt qua sự co cụm vị kỷ để tìm đến mọi người – tức công lý và chân lý. Từ cơ quan đến ngoài xã hội, từ ngành này qua ngành kia, chúng ta vẫn được chứng kiến một đời sống tư tưởng: “Thứ nhất đồng ý, thứ nhì im lặng”.

Ở đời chỉ có hai loại sản xuất chính: 1- cơ bắp sản xuất vật phẩm; 2- trí não sản xuất ý tưởng. Vậy mà hầu khắp đời sống tinh thần của chúng ta chẳng sản xuất được gì nhiều hơn sự “im lặng” và “đồng ý”, thử hỏi xã hội sẽ tiến bộ bằng cách nào? Và thế giới cũng hình thành rõ rệt hai đẳng cấp, dân tộc nào sống trong sản sinh tinh thần nhiều hơn sẽ làm ông chủ, dân tộc nào sống theo thói quen bản năng nhiều hơn – ít động não, sẽ làm nô bộc. Người Việt cũng phân rõ hai hạng:

Ông cả ngồi trên sập vàng
Cả ăn cả mặc lại càng cả lo
Thằng bếp ngồi trong xó tro
Ít ăn ít mặc ít lo ít làm.

Thật quá rõ ràng, một dân tộc ít lo ít làm thì làm sao giàu mạnh? Muốn giàu mạnh thì chỉ có một con đường làm nhiều và lo nhiều – tức vận động tinh thần nhiều hơn để sản sinh nhiều sáng kiến hơn. Muốn thế thì không thể ngại học, ngại tư duy.

Tư duy phải trở thành thú vui của tinh thần chứ không phải cái ách khổ ải như nhiều người nghĩ. Giản dị như trò chơi đánh cờ, xếp chữ, hay rubic cũng vậy, người chơi thấy vui vì được nghĩ, được tính, chứ không phải thấy khổ. Niềm vui tư duy không phải chỉ là sự cảnh tỉnh những người ít học, mà với tất cả chúng ta. Theo các nhà chuyên môn chẳng hạn, dân tộc ta có rất nhiều con em đạt giải cao trong các kì thi toán quốc tế. Thật tự hào! Nhưng cũng đáng tiếc thay, trong rất nhiều hạt giống ưu tú đó, không bói ra nổi một nhà toán học lý thuyết. Tóm lại, ngay cả những hạt giống tư duy đó vẫn ngại tư duy để trở thành đại thụ tư duy. Ở các ngành khác cũng vậy. Mở đầu chúng ta không thiếu gì những chuyên gia giỏi được đào tạo chính quy, nhưng chẳng được mấy hồi các chuyên gia chểnh mảng cuộc truy tìm chuyên môn, lao sang các cuộc truy lùng “ghế quản trị”. Thế là ngọn lửa tư duy chuyên môn đành tắt lịm, nhường bước cho ngọn lửa phẩm trật xã hội – ai cũng giống ai – nhà chuyên môn nào cũng na ná nhau theo cách thức “tìm số ghế”.

Tình trạng còn nặng hơn trong các ngành xã hội, bởi lẽ các ngành tự nhiên ít hay nhiều đều phải hình thành thói quen nói – làm – nghiên cứu dựa trên các chuẩn mực của lý trí. Dẫu vậy, khoa học đối với dân tộc ta là một lĩnh vực còn khá ngỡ ngàng khá khiêm tốn. Trái lại, ngành xã hội nhân văn, đặc biệt với văn thơ, nở rộ như một vườn hoa dại. Hàng nghìn, hàng vạn tập thơ ra đời mỗi năm mà dường như chẳng ép nổi một vài hạt tinh dầu của lý trí phán định. Thế là, nạn kéo bè kéo cánh, tung hô có đi có lại diễn ra đại trà. Sinh ra khen vờ chê giả. Nói có sách mách có chứng, đã qua vài đại hội nhà văn toàn quốc, có cả nghìn người về dự, chỉ đếm được lưa thưa trên đầu ngón ta vài nhà phê bình miễn cưỡng “ép khung tuổi”. Và còn nghèo nàn hơn, tại các diễn đàn dành cho các cây bút trẻ, người ta vừa bói vừa nhặt chẳng gom nổi một vài hạt vàng tấm của ý tưởng hay phát kiến. Có rất nhiều, rất nhiều nhà văn, nhà thơ che chắn thủ thế từng lời nói, chiến thuật mỗi ứng xử, để làm gì? Để tìm cách thành đạt “ghế đánh số xã hội” hơn là vì chuyên môn văn học. Đây là kiểu mẫu khá điển hình cho trình độ sống của chúng ta. Đó là bằng mọi cách chúng ta vẫn tìm kế mưu sinh, cách tồn tại, cách hơn người nhiều hơn là tìm cách sống chuyên môn để nâng cao giá trị thực của mình.

Một xã hội hùng mạnh theo triết gia Socrates là mọi người cố gắng sống theo phẩm chất chuyên môn riêng biệt một cách cao nhất. Người chăn cừu, hãy nuôi đàn cừu cho thật nhiều, thật béo; người thầy thuốc hãy lo chữa chạy thật tốt cho bệnh nhân; và người viết văn hãy lo để viết thật hay… Trái lại một xã hội sẽ vô cùng yếu ớt nếu người ta chưa làm nghề gì đã lo kiếm được bao nhiêu và vị trí xã hội của mình sẽ đặt ở chỗ nào? Khi chúng ta đã giành độc lập, đã có tự do mà nhà văn vẫn tự chuốc vào mình, loay hoay ứng xử để kiếm ghế ưu tiên thay cho việc thể hiện ý tưởng cũng như chuyên môn thì có bé nhỏ không? Và chúng ta có thể ngẫm lại, ngay cả Từ Hi thái hậu có phẩm trật cao nhất Trung Quốc mà không trau dồi phẩm chất tinh thần thì mặc cảm tự tôn chưa vượt qua nổi mái tóc của đứa nô tì, thì số ghế chúng ta có lách lên thay vì nâng cao chuyên môn mĩ học cho ngòi bút có thấm tháp gì? Làm vậy chúng ta đã đổi cái đại trí, đại khôn, đại tài lấy cái tiểu trí, khôn vặt và tài mọn. Trong đối thoại, người Việt ít để ý và đi đến cùng vấn đề của nhận thức mà thường chỉ lưu tâm đến ảnh hưởng xã hội. Bởi thế khi đối thoại căng thẳng thì thường đem tâm lý xuê xoa chân lý, đem thái độ thay thế trình độ.

Đó là những cơ sở quốc tế và quốc nội để tôi viết cuốn sách này. Cả thế giới vẫn nói “Triết học là khoa học của khoa học”. Vì thiếu tri thức nền móng của triết học nên người châu Á nói chung, người Việt Nam rất ngại – thiếu vững tâm – thiếu sở cứ để đưa ra ý tưởng. Người Việt đa số rất ngại, rất sợ triết học bởi họ lầm tưởng rằng triết học là thứ cao siêu, chỉ để dành cho những ai buộc phải mang sứ mệnh cao siêu. Thực ra không phải vậy. Triết học là tình yêu sự thông thái. Nó là niềm say mê tư duy thông thái. Nó là con đường của tư duy. Ai muốn yêu thích tư duy tự nhiên yêu thích triết học. Và triết học là những gì cốt tử hết sức gần gũi với mọi vấn đề cơ bản của con người. Nhiệm vụ cuốn sách của tôi muốn đạt tới là trình bày hệ thống tư duy triết học, những thành tựu, những ưu tư của triết học theo chiều dọc, để mọi người có thể nhận biết triết học mạch lạc hơn, dễ hiểu hơn và không sợ hãi.

2. Không thể không học biết triết học

Chúng ra không thể không bám sát phương ngôn của Aristote: “Con người là động vật lý tính” (Man is animal rational). Nếu định nghĩa con người là động vật đứng trên hai chân thì chưa đủ, bởi con khỉ cũng đi hai chân, con Kăng-gu-ru cũng vậy, thậm chí cả con ếch cũng đỡ trọng lực toàn thân và di chuyển bằng hai chân sau. Nếu định nghĩa con người như đẳng cấp vượt trội của các giác quan thì than ôi, các nhà bác học đã xác nhận, mắt loài cú nhìn tinh gấp con người cả ngàn lần, tai loài dơi nhạy bén hơn con người cả vạn lần, và mũi loài chó thính hơn con người cả triệu lần.

Vậy chỉ còn cách định nghĩa con người vượt hẳn hơn con vật chỉ nhờ vào lý trí của mình. Nếu không hơn hẳn các động vật khác bằng khả năng lý trí thì con người cũng chỉ rơi xuống như một động vật chìm trong muôn vàn động vật. Vậy lý trí là gì? Có thể tạm phân biệt 3 tầng:

1. Giác quan – bản năng – xúc cảm
2. Trí tưởng tượng – trên giác quan bản năng trực tiếp nhưng chưa phải nhận thức
3. Lý trí: Là đời sống phán đoán đặt căn bản trên nhận thức

Nhà triết học Lép-nit-xơ đã lý giải như sau: “Cảm tính là một khối hỗn độn không có tính chất phê phán(4). Còn triết gia Schopenhauer thì quả quyết: “Cuộc sống của chúng ta đều được dẫn dắt bằng cảm giác hay trí tưởng tượng sẽ là một cuộc sống thụ động, nó bày tỏ sự bất lực của con người(5).

Lý trí – nhận thức – tư tưởng – công lý – chân lý, có thể coi như những vòng tròn đồng tâm, hay những hạt nhân cùng hệ - đẳng. Trái ngược lại với nó, những con người sống theo cảm tính thì chỉ cảm nhận cuộc sống bởi giới hạn nhỏ hẹp của giác quan, đành tự thu mình lại – vì không dám tự tin vào cái ta hiến cho người, cái ta chiếu vào đời, cũng như cái ta gia nhập cùng mọi người. Bởi thế tự thân họ xa lánh mọi giá trị phổ biến, cái chung, cái là công lý và chân lý.

Con người có nhận thức, như triết gia Platon từ trước công nguyên đã chỉ: “Nhận thức là tiến đến tư tưởng” (connaitre c’est atteindre l’Idée) (6). Không phải ai khác mà chính Platon đã đưa ra dẫn dụ nổi tiếng về “cái hang” của nhận thức. Mở đầu, trí tuệ con người sống tối tăm như người sống trong hang, không thấy rõ cái gì, bởi thế anh ta thắp lửa lên để thấy đường đi, và chỉ có khi nào ánh dương hiện ra minh bạch anh ta mới nhận rõ: cái gì đen – cái gì trắng, cái đỏ - cái xanh, cái xấu – cái tốt. Về điểm này triết gia Descartes cũng khẳng định con đường của triết học: “Triết gia, là bắt đầu đi từ nghi ngờ, nhưng vượt qua chủ nghĩa hoài nghi”.

Chỉ khi con người nhận rõ mọi thứ, thì anh ta mới có khả năng chọn cái hay, bỏ cái dở, dấn thân vào hành động. Trái lại, khi chưa nhận rõ hoàn cảnh xung quanh, cứ nhắm mắt lao vào hành động, thì đó là việc làm liều mạng, không mang nhận thức. Bởi thế, nhận thức tất yếu liên quan đến hành động. Không hành động thì không tạo nên thế giới này, không nhận thức thì cũng không hành động. Triết gia Lagneau cho rằng: “Quan niệm, phán đoán, lý trí: phán đoán là hiệp nhất của một hành động trí năng” (le jugement est l’unité de l’activité intellectuelle) (7). Khi con người hành động, nghĩa là anh tác động việc làm của mình vào thế giới, với mọi người, mà hành động đó khởi đầu bằng một phán đoán – lựa chọn của lý trí, được đặt trên cơ sở của nhận thức. mà như trên chúng ta đã bàn, lý tính bản thân nó gia nhập vào giá trị chung, chứ không phải riêng rẽ như tình cảm, bởi thế một hành động có phán đoán của lý trí mang nhận thức tự thân đã khoác lấy một tầm vóc cộng đồng – giữa mọi người – bởi mọi người – vì mọi người. Lagneau nói: “Tất cả phán đoán đều hình thành giữa một công thức nền tảng(8).

Công thức, hàm nghĩa định lý chung được muôn người thừa nhận. Cảm tính có thể của riêng mỗi người, nhưng còn lý trí là đã khỏi khuôn viên cá thể bước vào ranh giới nhân loại. Bởi thế, theo triết gia Alain, ngay cả khi con người tư duy, anh ta đã không còn cơ hội thể hiện cái tôi mà đang buộc phải hòa mình vào nhận thức phổ quát. Ông viết: “Không có tư duy cô độc. Tư duy là công việc xã hội. Chân lý không phải là cái mà cả thế giới nghĩ đến nhưng là cái cả thế giới phải nghĩ đến. Thế giới quan chính là cái mang giá trị cho mọi tinh thần(9).

Phán đoán là hành động hiệp nhất của trí năng. Không có trí năng con người không thể hành động. Bởi thế, từ triết học đến các khoa học, đến nghệ thuật, hay các ngành nghề xã hội, các chuyên gia rất coi thường những đầu óc không có khả năng tích lũy những kiến thức minh bạch, để từ đó đưa ra những phán đoán xác đáng cho hành động (nói đâu xa, ngay môn thể thao bóng đá chúng ta vẫn thường xem trên tivi, những cầu thủ có khả năng ghi bàn phải là những chân sút “quyết đoán”, “lý trí lạnh lùng”). Một người nếu không từng hiểu 1+1 = 2, thì làm sao có thể tin vào 2+2 = 4, và làm sao có thể đi xa hơn vào các phép lũy thừa hay phân tích… Nhận thức chắc chắn của mỗi người, có thể ví như những bánh răng của một chiếc đồng hồ, chỉ khi các bánh răng ăn khớp vào nhau thì đồng hồ mới vận hành, mới chắc chắn mấy giờ, mấy phút, mấy giây, rồi ngày, rồi tuần. Trái lại, nếu chiếc đồng hồ đó lỏng lẻo, mỗi mắt răng không ăn nhập vào nhau, thì người ta không thể nào tự tin vào những thông số mà chiếc đồng hồ đó đưa ra. Con người không có nhận thức, sẽ không dám phán đoán! Không dám phán đoán sẽ không dám hành động! Nếu không nhận ra điều đó, thì bất cứ xã hội nào cũng chỉ giống một chiếc xe cứ vận hành lại tuột xích – thành ra cứ ì tại chỗ. Đó cũng là đặc điểm lý giải nền văn học của nước nhà, ngót một nghìn năm trăm năm rồi, một bộ phận lớn cứ ì ra chầu rìa quanh mấy câu tứ tuyệt, còn lại những tác phẩm văn thơ khác thì chỉ ở tầm be bé – vừa vừa vì thiếu hẳn ánh sáng ở địa hạt nhận thức. Để chắc chắn về một đời sống mang giá trị có hành động của tinh thần, chẳng còn cách nào khác, chúng ta không thể chối từ phán đoán, như Lagneau xác nhận: “Phán đoán là hành động trọn vẹn của đời sống trí năng, và hành động hiệp nhất; không có trong đó phán đoán chỉ là quan niệm, hay là lý trí. Phán đoán vậy phải được nhìn nhận như sự bắt đầu và đặc trưng của tinh thần – giống chính tinh thần vậy(10).

(Xem tiếp...)


Chú thích

1. Tôn Trung Sơn: Chủ nghĩa Tam Dân, Viện Thông tin khoa học xã hội 1995, tr51
2. Sđđ. tr 56
3. Sđđ. tr 270
4. Lê nin, Bút ký triết học ( BKTH), tr84
5. Charles Waner, La Philosophie moderne ( Pm Payot Paris 1954, tr 111)
6. L.M. Mortaux, La Connaissance et la Raison ( CR). Armand Colin tr 53
7. Sđđ. tr 49
8. Sđđ. tr46
9. Sđđ. tr 64
10. Sđđ. tr 50

Số lượt đọc:  6299  -  Cập nhật lần cuối:  24/04/2009 06:06:46 PM
  Trao đổi/Nhận xétTổng số:  12
Hành trình của duy niệm? Điểm khởi đầu?
Mơ Hoa  - Email:  hungcinco01@yahoo.com   (21/09/2009 08:13:04 AM)
Để hiểu được quá trình hình thành và phát triển triết học có lẽ nên bắt đầu từ sự hình thành và phát triển của ngôn ngữ. Khởi đầu của ngôn ngữ là để đặt tên, chỉ danh của một hiện tượng sự vật mà thôi. Lịch sử của ngôn ngữ là một hành trình dài bứt phá của nhân loại. Việc đặt tên cho các hiện tượng, sự vật trong cuộc sống con người dần trở nên quen thuộc và bắt đầu có thể giao tiếp giữa con người với nhau.

Quá trình ý thức được các chức năng của sự vật ảnh hưởng tới con người đã đưa nhân loại thêm một quá trình bứt phá tiếp trong sự suy tưởng. Các khái niệm mới bắt đầu được hình thành có khả năng bao quát hơn. Triết học phương đông và phương tây đều có chung một tiến trình như vậy. Duy có sự khác nhau của hai nền triết học này là vì chúng đi theo đường lối khác nhau tuy cùng với bản chất của sự vật.

Cụ thể nếu phương Đông đi theo hướng gộp nhóm các thuộc tính chung của sự vật rồi khái quát nên thì phương tây đi theo hướng phát sinh ban đầu để diễn giải các hiện tượng sự vật. Hầu hết là đưa ra một khung chuẩn để giải thích cho lối vận hành của sự vật. Tất cả các lối suy nghĩ này đều ngày càng trở nên thâm sâu tựa như ngày nay các nhà khoa học đang tìm đến vũ trụ sinh ra từ đâu. Tất cả đều chỉ có thể đưa về một giới hạn nào đó và người ta vẫn chưa thể vượt được rào. Dòng chảy này là diễn biến của một quá trình vô hạn bởi liên tục không thể giải thích nổi cái gì sinh ra cái này. Và khi con người cảm giác bất lực với hiện tại, họ bắt đầu tin vào thượng đế, các vị chúa...

Không thể giải thích được cái vô hạn nên nó sẽ luôn ngự trị trong tâm hồn con người. Chính sự phát triển của ngôn ngữ, cùng với các cách thức khai thác vấn đề, cùng với dục vọng của con người nên đã đưa đến sự phức tạp của chúng ta ngày nay. Cuốn từ điển ngày càng dày nên, các khái niệm ngày càng cao hơn đem đến một khoảng cách khá xa so với các sự vật, hiện tượng, các phương pháp tìm kiếm, khai thác cũng ngày càng trở nên tinh vi hơn, hỗn độn hơn khiến con người trở nên xa lạ, trở nên không phân biệt nổi diễn trình này và trở thành một hạt cát nhỏ nhoi, bơ vơ trong bể phức tạp của các khái niệm này. Khi phức tạp ngày càng nhiều nên, con người nhiều khi không giải thích nổi và tìm cách trở về nguyên thuỷ của nó.

Để giải thoát cho cái phức tạp này con người trốn khỏi nó, thoát ra khỏi nó, họ quay trở về cội nguồn bằng cách bắt đầu chiêm ngưỡng lại những cái đơn giản sau đó đem đối chiếu với cái phức tạp của hiện tại và hình thành nên những nguyên tắc, đạo lý...để cho đời sống trở nên có định hướng, chuẩn mực hơn, đúng đắn hơn. Các đạo lí đều có sự xuất thân từ đó. Đều là trở về nguồn cội. Đều là truy tìm lại cái diễn trình của sự phức tạp này từ sự giản đơn. ngồi thiền là để dứt bỏ sự phức tạp của cuộc sống hiện tại, là để bắt đầu hành trình trở về với sự giản đơn và sự suy diễn, liên tục các tiến trình đến với cái phức tạp trong cuộc sống hiện tại hay diễn giải sự phức tạp này từ chân lý giản đơn hơn...

Tất cả bắt đầu từ sự giản đơn, ngôn ngữ cũng vậy. Sau này các sự vật được nhóm lại và được khái quát lại và lại được đưa vào ngôn ngữ, tạo thêm những từ ngữ mới. Rồi càng ngày các thuộc tính chung này được phát triển từ tĩnh đến động, từ không có thước đo đến có thước đo, từ những khái niệm được hiểu bởi nhiều yếu tố khái niệm khác.
Thật đáng lo. Xin chen vào một ý
Trần viết Thuận  - Email:  ttranvietthuan@yahoo.com.vn   (24/08/2009 08:37:51 AM)
Tư tưởng nho giáo đã ăn sâu vào máu thịt của dân ta. Nó trở thành tập quán,văn hóa dân tộc. Trật tự phong kiến đã sản sinh bao nhiêu hình tượng về trung trinh tiết liệt. Có người được nhân dân sùng bái, lập miếu thờ và gọi là hiển thánh.

Từ lúc chế độ quân chủ cáo chung,được thay thế bởi nền dân chủ thì xã hội phong kiến trở nên lạc hậu.Nhưng đất nước ta vẫn chưa có hệ tư tưởng nào thay thế. Luật pháp vẫn dựa vào phong tục mà soạn thảo. Nho giáo không được củng cố, nó phải phai tàn nhưng vẫn bị kẻ xấu lợi dụng. Việc giáo dục chủ yếu là sự làm gương. (xưa bày nay làm, ai sao tui dzậy,không thày đố mày làm nên). Con trẻ phải lễ độ ngoan hiền, khiêm tốn nhẫn nhục, hiếu thảo, trung thành, thủy chung, chấp hành, cam chịu. Người ta giáo dục cho con người làm "nô lệ", thụ động, ỷ lại. Sự giáo dục này từ trong gia đình,được tiếp nối từ thế hệ này qua thế hệ khác. Đây là điều Nguyễn Hoàng Đức đang lo lắng. Và thực vậy nếu không cảnh tỉnh không lên án thì người Việt Nam sẽ lạc hậu.

Môt chữ "PHẪN"cần thay gấp cho chữ "NHẪN"Mà dạo này người ta qua thư pháp đã treo đầy rẫy.

Nền giáo dục của dân ta là nền giáo dục "nô lệ". Từ lâu vẫn có nhiều người không chấp nhận. Họ có thể là những người đói nghèo thất học. Họ chả tư duy họ chỉ phẫn nộ cho sự bất công vốn có từ lúc mới ra đời. Và xã hội gọi họ là bọn mất dạy rồi cô lập họ. Con gái thì phải dịu dàng kín đáo, yểu điệu nết na. Để cuối cùng bị đàn ông bắt nạt, sử dụng như nô lệ. Đã rất nhiều thế hệ bất chấp dư luận đã ăn mặc theo bản năng mách bảo. Họ không cần biện minh. Cuối cùng họ đã thắng. Tất cả mọi người đều có triết lý sống. Nhưng nếu được học hỏi giao lưu, người ta sẽ thay đổi và tiến bộ.
Triết học Đông Phương
Văn Thành  - Email:  anhxtanh2006@yahoo.com   (13/05/2009 08:29:36 PM)
Trong bài này anh Nguyễn Hoàng Đức nhắc đến và luận giải về triết học Tây Phương , Triết học duy vật là chính yếu mà thôi. Còn triết học Phương Đông thì không hiểu anh đặt nó vào vị trí và tầm ảnh hưởng như thế nào đến tư duy nhận thức thế giới của con người chúng ta?

Theo tôi chính bởi triết học Đông Phương quá ư là cao siêu trừu tượng cho nên số người đọc và nghiên cứu nó cũng đã ít hơn nữa những người ngộ ra được chân lý từ nó lại càng ít hơn nữa.

Ngoài ra Triết học Phương Đông ra đời từ rất sớm, trải qua mấy nghìn năm phong kiến, trong nó lại bao hàm cả các quy luật hiện tượng tâm linh có thể gọi là tính Thần. cho nên nó lại càng thần bí và trừu tượng hơn với những người muốn tiếp nhận nó.

Chính bởi tính hướng nội trong tư duy của người Phương Đông chúng ta cho nên những bậc cao nhân thường ít xuất hiện trước quảng đại quần chúng. Về điểm này tôi thấy rất tâm đắc voi anh Đức.

Nhưng Triết học Đông Phương rất huyền diệu và có tính phổ quát về các quy luật vũ trụ, nếu không muốn nói là bao quát hơn cả Triết học duy vật. Về điểm này tôi xin trinh bày như vậy.

Với mỗi vấn đề luôn suy nghĩ và rất thích ngồi tư duy về sự vật hiện tượng.

Là người Việt Nam mở rộng ra chúng ta là người Á Đông làm thế nào chúng ta có thể sánh với các cường quốc năm châu. Tôi thấy mình còn phải tiếp nhận, suy nghĩ và hành động nhiều hơn.

Cảm ơn anh đã có bài viết hay, mong anh sẽ có những bài viết gửi đến độc giả hơn nữa và chúng ta cùng bàn luận.
Triết học sẽ trở thành môn học được yêu thích.
Thohoaky  - Email:  thohoaky@yahoo.com   (26/03/2009 03:48:26 PM)
Em thấy bài viết rất tuyệt. Em là sinh viên năm nhất vừa mới được học môn triết học ở trường. Triết học là môn học mà phần lớn các bạn sinh viên đều không say mê. Nhưng qua bài viết này chắc chắn em và mọi người sẽ hiểu rõ và hứng thú khi học môn này, quan trọng là tư duy và hành động trong cuộc sống sẽ đúng đắn hơn. Cảm ơn tác giả.
Cảm ơn tác giả Nguyễn Hoàng Đức
ha  - Email:  hathu55@gmail.com   (22/03/2009 02:56:56 AM)
Bài viết rất triết học, những trích dẫn thật tuyệt vời. Triết học không hề khó với những người lấy tư duy làm thú vui như tác giả đã viết.

Cứ nhìn vào toàn bộ nền nghệ thuật hiện nay và cả trước kia của Việt Nam và so sánh với thế giới sẽ thấy ngay chúng ta thiếu cái gì.Không có triết học con người không thể lớn hơn. Nhưng thật buồn cười nếu ai đó cho rằng triết học chỉ có trong những cuốn sách cao siêu thông qua ngôn ngữ hàn lâm. Bạn nên nhớ rằng tất cả các triết gia không phải sinh ra đã trở thành triết gia. Đó là cả quá trình chiêm nghiệm bằng tư duy dựa trên những tri thức đã biết để tạo ra tri thức mới. Điều đó có nghĩa là triết học có trong từng chi tiết trong cuộc sống, ẩn chứa trong những điều đơn giản nhất nhưng chỉ có người hay suy nghĩ mới tìm ra.

Chính triết học tạo nên cuộc sống nhưng chỉ có triết gia mới nhận thấy điều đó và mỗi chúng ta đã là một triết gia. Mức độ phát triển của xã hội phụ thuộc vào mức độ nhận thức của các triết gia trong xã hội đó.
Một cầu nối khả dĩ?
Nguyễn Minh Tân  - Email:  tan_hic@yahoo.com   (10/03/2009 09:50:18 PM)
Quả thực trước kia tôi cũng như nhiều người khác chẳng thích thú gì triết học cả. Nhưng càng làm việc nhất là các công việc liên quan đến nghiên cứu thì thấy triết học càng có vai trò quan trọng. Nhưng thực sự để tiếp cận tốt các nội dung của triết thì không hề đơn giản. Có thời chúng ta quan niệm triết là khoa học của mọi khoa học. Chính vì nó bao trùm lên rất nhiều lĩnh vực nên nó có tính khái quát và trừu tượng rất cao. Vậy liệu có thể có những nấc thang vừa phải để chúng ta có thể bước dần từng bước từ những cái cụ thể lên cái chung nhất và ngược lại?

Không biết các bạn có nghe nói đến TRIZ? Mấy năm nay tôi nghiên cứu và đã bước đầu giảng dạy về TRIZ, tôi thấy đây là chiếc bậc thang rất tốt để mọi người có thể dần tiếp cận với triết một cách dễ dàng hơn. Nếu quý vị quan tâm tôi sẽ trở lại vấn đề này. Tuy nhiên rất mong quý vị nhờ anh bạn Google để có thêm thông tin về TRIZ.
Triết học - xa lạ và gần bên!
trandinhbich76  - Email:  trandinhbich76@yahoo.com   (03/03/2009 10:29:41 PM)
Mỗi thời đại và mỗi con người thuộc về cùng thời đại hoặc thời đại khác nhau đều là một phần được tạo nên bởi toàn thể thế giới vô cùng tận trong lịch sử vô thủy vô chung. Tự bản thân mỗi người đã và đang là một sự thể nghiệm triết học của chính anh ta, của - riêng - anh - ta. Dưới góc độ đó thì mỗi sự tồn tại cá nhân trong hạnh phúc và đắng cay của thân phận mỗi người chính là định nghĩa đích xác nhất về triết học. Tuy vậy, sở dĩ có một số quan niệm chung về cái này hay cái khác, về triết học, ... là bởi vì có một số lợi ích của một phần nhân loại giống nhau. Mác gọi đó là lợi ích giai cấp. Mỗi thời đại chỉ có thể có vài ba giai cấp nhất định có sự khác biệt phần nào lợi ích. Những giai cấp đó làm tất cả những gì có thể (kể cả làm một cách khoa học và phản khoa học; nhân văn và phản nhân văn) để xem xét và sử dụng cái này hay cái khác, cái triết học,...như một vũ khí tinh thần, lý luận cho mình trong cuộc đấu tranh cho lợi ích của họ.

Dù khác nhau, song xưa và nay, phương Đông và phương Tây đều có nhiều điểm chung về quan niệm triết học. Đều cho rằng triết học là trí tuệ con người trước và sau cuộc đời và xuyên qua cuộc đời (triết lý/đạo lý/trí tuệ thông thái/...).

Tùy mỗi người nghiệm sinh mình ở một thực tại, tầng nấc nhất định mà cho rằng triết học hiện ra như thế nào đó.

Song, để triết học có thể trở thành như là làn sóng"yêu thích thông thái" trong xã hội thì xã hội phải nhận chân được giá trị xuyên kinh tế - chính trị - văn hóa - tư tưởng của nó trước đã. Phải tôn trọng nó trước đã. Một quốc gia không coi trọng lý luận triết học hoặc chỉ coi trọng kiểu "đầu môi chót lưỡi" mà không có kế hoạch cho sự phát triển tự do cho nó thì quốc gia ấy vĩnh hằng thiếu vắng nó.
Trang:  1/2Trang sau 
  Ý kiến của bạn về bài viết:
Bài mới:  
Giáo dục Khai Phóng
30/08/2010 10:57' AM
Niềm tự hào
26/08/2010 01:31' PM
Văn minh Chính trị
23/08/2010 02:57' PM
Bài khác:
Liên kết web
Trang chủGiới thiệuLiên hệ