“Kẻ sĩ” là từ dùng để chỉ những người thuộc tầng lớp trí thức trong lịch sử. Từ “kẻ” hoàn toàn là tiếng Việt, tiếng Nôm thường viết là 几, đó là chữ “kỷ” của Hán tự đọc theo âm Việt mà thành. Gọi là “kẻ” không hề biểu thị ý gì khinh rẻ cả (1). “Sĩ” là từ Hán - Việt, chữ Hán viết 士. Thời cổ đại, chữ “sĩ” vốn dùng để chỉ, quân đội, lực lượng vũ trang, thường gọi là võ sĩ, chứ không phải dùng để chỉ “trí thức” chỉ “văn nhân”. Thời cổ đại ở Trung Quốc, nước lớn (đại quốc) có “ba quân”, nước vừa (trung quốc) có “hai quân”, nước nhỏ (tiểu quốc) có “một quân”. Mỗi quân có một nghìn cỗ xe, mỗi cỗ xe có mười “sĩ” thống lĩnh, ngoài ra có nhiều lính gọi là tốt tùy tùng (2). Bây giờ ở quân đội còn gọi là “sĩ quan”, “binh sĩ”.
Về sau “sĩ” thông thường dùng để chỉ “văn” chứ không chỉ “võ” như thời cổ đại. Tại sao lại như vậy ?
Lý do như sau : thời cổ đại, nhà nước có hai việc quan trọng vào bậc nhất, đó là tế lễ trời đất và hoạt động quân sự (Quốc chi đại sự, duy tự dữ nhung). “Sĩ”, có nghĩa là người được giáo dục, huấn luyện chủ yếu là về quân sự, về sau do tình hình thay đổi, nên nội dung giáo dục, huấn luyện lại thiên về văn. Do đó, cùng là “sĩ” nhưng thời xưa chỉ quân nhân thời nay lại chỉ “tri thức”, khác nhau một trời một vực. Hiện nay, “kế thừa” lịch sử, người ta cũng gọi “sĩ” là “kẻ sĩ”, “kẻ sĩ” tức là “trí thức”, chỉ chung những người chủ yếu lao động bằng trí óc. Bao gồm : nhân viên kỹ thuật, thầy thuốc, giáo viên, cán bộ nghiên cứu khoa học, diễn viên, luật sư, những người hoạt động văn học nghệ thuật... ví dụ như bác sĩ, nhạc sĩ, họa sĩ , văn sĩ, ca sĩ…
Những người này thường được gọi là phần tử “trí thức” (3) (Intellectual), hình thành một đội ngũ, một tầng lớp trong xã hội, chứ không phải là một giai cấp.
Cũng có ý kiến cho rằng đặc điểm của “trí thức” là lao động trí óc, cho nên “trí thức” bao gồm cả những người ở tầng lớp thống trị :
“Nếu giai cấp công nhân và nông dân về nguồn gốc tồn tại đều về phía đại biểu của lao động chân tay thì tình hình đối với các đại biểu của lao động trí óc lại phức tạp hơn. Một mặt thuộc vào số này là các giai cấp thống trị mà đa số hợp thành một tầng lớp ăn bám, bóc lột lao động làm thuê (cả lao động trí óc lẫn lao động chân tay)”(4).
Như vậy những người thống trị cũng thuộc tầng lớp “trí thức” ? Thời kỳ phong kiến, chữ Hán gọi “trí thức” là “sĩ” 士, nhưng cũng gọi là quan là “sĩ”, có điều, chữ viết khác nhau một chút: 仕 (thêm bộ nhân đứng một bên). Cho nên “trí thức” và “làm quan” không xa nhau mấy. Mạnh Tử gọi tầng lớp quan lại là người “lao tâm” còn người dân lao động là “lao lực” từ đó cho rằng “người lao tâm cai trị người khác, còn người lao lực thì bị người khác cai trị” (lao tâm giả trị nhân, lao lực giả trị ư nhân, Mạnh Tử, Đằng Văn Công, thượng).

Không biết có nên xếp quan lại vào hàng ngũ “trí thức” hay không, nhưng thực ra những người mới hôm qua còn là kẻ sĩ hàn vi, hôm nay lều chõng đi thi đỗ đạt thì coi như đã thuộc về tầng lớp quan lại thống trị rồi. Điều đó nói lên rằng kẻ sĩ cũng rất gần với giai cấp thống trị. Tuy nhiên, không phải ai đi thi cũng đậu cả, ngược lại, đậu thì ít mà rớt thì nhiều. Có những khoa thi hàng ngàn thí sinh nhưng chỉ đậu được vài người, như khoa Đinh Mùi, năm Cảnh Trị thứ 5 (1667), đậu được ba người, khoa Tân Sửu, năm Cảnh Hưng thứ 42 (1781), đậu hai người(5). Những người thi rớt, nếu quyết tâm thì đi thi lại, nếu không thì về nhà, hoặc dạy dăm ba đứa học trò hoặc “đuổi gà cho vợ”, làm quan không được thì làm người vậy. Hoặc cũng có người thi đậu nhưng chán đời “trùm chăn” không chịu ra làm quan như Trạng Trình, Nguyễn Bỉnh Khiêm, La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp chẳng hạn, học hành đã vất vả rồi, lều chõng đi thi lại càng cực khổ trăm chiều:
“Vì thế, người làm ruộng, người đi buôn, cho đến người hàng thịt, người buôn bán vặt vãnh cũng đều làm đơn nộp tiền xin đi thi cả. Ngày vào thi đông đến nỗi giày xéo lẫn nhau, có người chết ngay ở cổng trường”(6).
Nói chung, đại đa số kẻ sĩ thường gần với dân chúng hơn. Cho nên ngày xưa, trong thời phong kiến, kẻ sĩ được xem là một trong “tứ dân”, nhưng được “may mắn” đặt ở hàng đầu: sĩ, nông, công, thương. Trong xã hội tư bản, trí thức cũng là tầng lớp góp phần tạo ra giá trị thặng dư. Cho nên Mác gọi là “kẻ lao động làm thuê”, hoặc xem họ như là “giai cấp vô sản lao động trí óc” (7). Tuy nhiên từ Đông sang Tây, ở đâu thì “kẻ sĩ” cũng xuất hiện muộn hơn cả so với nông dân và thợ thủ công (tiền thân của công nhân). Trong quá trình phân công của hội loài người, vào thời kỳ đầu của xã hội nguyên thủy, phân công xã hội chủ yếu dựa vào “tự nhiên” nghĩa là dựa vào tuổi tác, giới tính chẳng hạn. Khoảng gần cuối xã hội nguyên thủy, xã hội mới bắt đầu phân chia thành chăn nuôi, trồng trọt. Khi xã hội nguyên thủy tan rã, thợ thủ công bắt đầu tách ra từ nông dân. Đến đầu chế độ chiếm hữu nô lệ, giai cấp thương nhân xuất hiện, sau đó sự cách biệt giữa thành thị và nông thôn hình thành, xã hội phân chia thành lao động trí óc và lao động chân tay. Cho nên sự khác biệt giữa lao động trí óc và lao động chân tay đã tuyên bố sự bắt đầu của cái gọi là “phân công xã hội”:
“Phân công lao động chỉ trở thành sự phân công lao động thực sự từ khi xuất hiện sự phân chia thành lao động vật chất và lao động tinh thần” (8).
Như vậy, “kẻ sĩ” hay “trí thức” mà đặc điểm chủ yếu là lao động tinh thần hay lao động trí óc, chính là anh em sinh đôi với sự phân công lao động xã hội. Còn sự phân công lao động xã hội lại chính là cơ sở hình thành giai cấp, nguyên nhân của hiện tượng bóc lột. Cho nên sự xuất hiện của tầng lớp trí thức vừa là bước lùi vừa là bước tiến của nhân loại. Áp bức, bóc lột, phân hóa giàu nghèo là bước lùi so với xã hội nguyên thủy chưa có giai cấp. Tầng lớp trí thức không phải là nguyên nhân của những cái đó, chính nó vừa là nạn nhân vừa là thủ phạm “không tự giác”. Nếu như không thể phủ nhận chế độ chiếm hữu nô lệ là một bước tiến của nhân loại thì càng không thể phủ nhận sự xuất hiện của trí thức là bước tiến cực kỳ quan trọng của xã hội. Ăng-ghen đã nhận xét rất đúng rằng:
“Mãi đến chế độ nô lệ mới có thể có sự phân công lao động trên một quy mô khá rộng lớn giữa nông nghiệp và công nghiệp, và do đó mới có thể có sự hưng thịnh nhất của thế giới cổ đại, tức là nền văn minh Hy Lạp. Không có chế độ nô lệ, thì không có quốc gia Hy Lạp. Không có nghệ thuật và khoa học Hy Lạp. Không có chế độ nô lệ thì không có đế quốc La Mã. Mà không có cơ sở văn minh Hy Lạp và đế quốc La Mã thì cũng không có châu Âu hiện đại được. Chúng ta không bao giờ nên quên rằng tiền đề của sự phát triển kinh tế, chính trị và trí tuệ của chúng ta là một hoàn cảnh trong đó, chế độ nô lệ là hoàn toàn cần thiết và được tất cả mọi người thừa nhận. Theo nghĩa trên đây, chúng ta có quyền nói rằng: không có chế độ nô lệ cổ đại, thì không có chủ nghĩa xã hội hiện đại” (9).
Đúng là “không có chế độ nô lệ cổ đại, thì không có chủ nghĩa xã hội hiện đại”, “không có nghệ thuật và khoa học Hy Lạp”, có nghĩa là không có những người lao động trí óc, thì cũng không có chế độ nô lệ cổ đại. Không có những “người khổng lồ” trí thức ở thời kỳ Phục hưng thì cũng không có thời kỳ Phục hưng... Tầng lớp trí thức đắt giá đến nỗi người ta “quên mất” giai cấp công nhân, người ta quàng cả tương lai của nhân loại lên đôi vai của đội ngũ trí thức, được gọi là “khối lịch sử” (bloc historique). Còn những người theo chủ nghĩa kỹ trị (Technocracy) thì xóa nhòa giai cấp bằng cách biến tầng lớp trí thức trở thành tầng lớp thống trị trong cái gọi là xã hội tương lai. Kêu gọi những ông chủ tư bản hãy “trao quyền” quản lý xã hội lại cho “trí thức”.
Không ai có thể phủ nhận vai trò tích cực của trí thức trong quá trình phát triển lịch sử của nhân loại. Ở Việt Nam vai trò của trí thức càng đặc biệt quan trọng trong quá trình giải phóng dân tộc cũng như xây dựng đất nước. Lịch sử luôn ghi nhớ chiến công lẫy lừng của Lý Thường Kiệt, càng không quên “tuyên ngôn độc lập” Nam quốc sơn hà bất hủ. Nhắc tới Trần Hưng Đạo, không thể không nhắc tới Hịch tướng sĩ. Chiến thắng quân Minh của khởi nghĩa Lam Sơn không thể tách rời khỏi mưu sĩ “trí thức” Nguyễn Trãi. Chiến thắng Đống Đa, phá gần 30 vạn quân Thanh, trong đó công lao của “văn nhân” Ngô Thì Nhậm chủ trương bỏ Thăng Long lui về Tam Điệp đâu phải là nhỏ...
Trong kháng chiến chống thực dân Pháp ai cũng kết sự nghiệp và khí tiết của Phan Đình Phùng, Trương Định, Nguyễn Thông, Nguyễn Đình Chiểu và gần hơn là Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng… Chủ tịch Hồ Chí Minh là nhà cách mạng của giai cấp công nhân, nhưng đồng thời cũng là nhà trí thức yêu nước vĩ đại của dân tộc.
Cùng với giai cấp công nhân và nông dân, trí thức Việt Nam đã góp phần không nhỏ vào cách mạng giải phóng dân tộc và xây dựng xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên, chưa nói đến đội ngũ trí thức, vấn đề liên minh công nhân và nông dân, không phải ngay từ đầu đã được chủ nghĩa Mác đề cập đến.
|
Nói tới kẻ sĩ là nói tới những người có văn hóa và nhân cách ở trình độ cao. Chữ sĩ cũng có bóng dáng đầu tiên của học trò, nhưng mục đích ở cuối chặng đường học hành lại là làm quan. Tóm lại, chữ Sĩ phản ánh một hành trình gồm nhiều chặng, từ lúc đi học đến khi làm quan – nghĩa là khi đạt tới một thành tựu về nhiều mặt - kiến thức, địa vị, tiền tài, quyền lực, ở một đẳng cấp cao trong xã hội.
Xã hội phong kiến được xây dựng theo mô hình gia đình trị được cơi nới rộng. Trong khi đó, xã hội hiện đại bao gồm nhiều ngành nghề và kĩ nghệ, đòi hỏi cá nhân, đặc biệt là trí thức phải có kiến thức toàn thể và tổng phổ. Bởi thế, cái học ngày xưa với cái học ngày nay cũng có nhiều sự khác biệt.
Ngày xưa, triều đình phong kiến mở khoa thi về thơ, phú, văn sách… Kỳ thi là điểm mốc quan trọng đánh dấu bước khởi đầu trên con đường hoạn lộ của kẻ sĩ. Nhà vua là người trực tiếp ra đề, chấm thi và quyết định việc đỗ-trượt của sĩ tử. Việc thi thố chủ yếu diễn ra trong phạm vi kiến thức xã hội học, hiếm hoi mới có Lương Thế Vinh, được vinh danh nhờ có trình độ toán học kiệt xuất.
Trong xã hội phong kiến, mục đích việc học là “tiến vi quan, thoái vi sư” –học trước hết là để làm quan, vinh thân phì gia, yếm thế hơn mới trở về làm thầy dạy người. Trong khi các trí thức Hy-Lạp cổ đại như Socrates, Platon… có thể vui với niềm vui tri thức tại nhà nhưng vẫn có tầm vóc tư tưởng lan tỏa toàn xã hội, thì người trí thức ở Việt Nam hay Trung Quốc có rất ít bản lĩnh tự giác, tự lập đó. Họ phải vòng lên kinh đô làm quan, rồi thoái quan, từ bỏ dục vọng về tiền tài địa vị, rồi mới trở về quê nhà, đóng vai bậc ẩn sĩ. Nói cách khác, trong nền học ngày xưa, không có những trí thức thuần khiết.
Trong sự biến đổi của thời đại, sự học ngày nay cũng có những khác biệt: học là để có kiến thức, để phát triển cá nhân và kiện toàn một xã hội toàn thể. Tuy vậy, chúng ta cũng cần có sự tỉnh táo mãnh liệt để nhận ra (dẫu vậy, ta thường rơi vào sự ngủ mê và sai lầm), không chỉ ở nước ta, mà ở châu Âu và thế giới, những ông vua ngồi “ngai da” như (Chủ tịch, Tổng thống) cũng không khác mấy các ông vua xưa kia ngồi ngai vàng. Giới có học Việt Nam nói riêng, châu Á nói chung vẫn theo đuổi nhiều ngành nghề với mục đích bon chen trong một hành lang hẹp (cái ghế làm quan). Tình trạng lạc hậu lâu dài ở châu Á và Việt Nam chứng tỏ điều này. Sự thật này cho thấy và nhắc lại rằng, dù cái học ngày nay có khác xưa là hiển nhiên, nhưng với những tham vọng và lối mòn tư duy cố hữu, chúng ta vẫn chỉ là những học trò vác chõng đi thi, có chăng là ngày nay, có thêm công cụ máy tính hiện đại.
(Nguyễn Hoàng Đức) |
Mác - Ăng-ghen sau khi tổng kết kinh nghiệm của cách mạng Pháp 1948-1949, mới chỉ ra rằng cách mạng vô sản không thể thành công nếu không có sự tham gia của giai cấp nông dân. Nếu công nhân chỉ tiến hành “đơn ca” thì bài ca đó chỉ trở thành một bài “điếu văn”. Đồng thời khẳng định rằng khi chính quyền đã về tay giai cấp công nhân thì liên minh công nông chính là nguyên tắc cơ bản của chuyên chính vô sản. Khẩu hiệu “liên minh công nông” (allance of the workers and peasants) càng được Lênin phát triển trong cách mạng 1905, đặc biệt là trong cách mạng tháng Mười 11 năm 1917.
Ở đây chỉ nói đến “liên minh công nông” chứ chưa đề cập đến vai trò của “trí thức”. Có lẽ giai cấp công nhân mà Mac đã trao hết sứ mệnh vào từng bước tiến lịch sử, bản thân nó đồng thời là những người tiếp xúc với tri thức khoa học mới nhất. Cho nên tính đảng và tính khoa học thống nhất ở chính bản thân giai cấp công nhân. “Liên minh công nông”, là điều kiện “cần” và “đủ”.
Ở Việt Nam, giai cấp công nhân không hoàn toàn giống như giai cấp công nhân ở các nước đại công nghiệp, tuy nhiên xác định đúng đắn và đầy đủ về vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân là vấn đề cốt tử đầu tiên của cách mạng :
“Giai cấp vô sản Việt Nam tuy còn non trẻ và nhỏ bé, song là một giai cấp rất kiên quyết cách mạng. Nó ra đời trước giai cấp tư sản dân tộc Việt Nam, và vừa lớn lên nó đã sớm tiếp thu ánh sáng cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin, nhanh chóng trở thành một lực lượng chính trị tự giác, thống nhất khắp Bắc, Trung, Nam. Nó lại vừa mới xuất thân từ trong nông dân lao động bị bần cùng hóa, cho nên những mối quan hệ khăng khít của nó với nông dân đã tạo điều kiện thuận lợi để thiết lập khối liên minh công nông vững chắc” (10).
Khác với các nước tư bản phát triển, cách mạng Việt Nam ngay từ đầu đã tiến hành công nông liên minh. Đây là điều kiện vô cùng quan trọng để bảo đảm sự lãnh đạo tuyệt đối của Đảng của giai cấp công nhân :
“Vấn đề liên minh công nông càng có tầm quan trọng đặc biệt đối với một nước như nước ta. Dưới chế độ thuộc địa và nửa phong kiến, giai cấp vô sản nước ta vốn nhỏ bé, song sức mạnh của nó sở dĩ vượt xa số lượng của nó, là vì ngoài nguyên nhân có đường lối cách mạng đúng đắn, còn có nguyên nhân giai cấp vô sản đã tranh thủ được người bạn đồng minh tự nhiên, rất đáng tin cậy, có lực lượng hùng hậu; có tinh thần cách mạng dồi dào, đó là nông dân. Đảng ta vừa mới ra đời đã nắm ngay quyền lãnh đạo cách mạng, bởi vì Đảng ta sớm xây dựng được khối liên minh công nông” (11).
Ở Việt Nam, nói đến liên minh công nông mà không nói đến trí thức thì hình như chưa đủ. Cho nên nói đến liên minh công nông, không thể không nói đến trí thức:
“Đặc biệt là các tầng lớp trí thức, học sinh có tinh thần yêu nước nồng nàn, thiết tha mong muốn bảo vệ truyền thống văn hóa đẹp đẽ của dân tộc, khôi phục những giá trị tinh thần cao quý của con người Việt Nam bị bọn đế quốc phong kiến chà đạp. Họ tỏ ra thức thời và rất nhạy cảm với thời cuộc. Được phong trào rầm rộ của công nông thức tỉnh và cổ vũ, họ bước vào hàng ngũ cách mạng ngày càng đông và đóng một vai trò quan trọng trong phong trào đấu tranh của nhân dân, nhất là ở công nhân Việt Nam vừa non trẻ vừa không phải là công nhân của nền sản xuất đại công nghiệp, cho nên việc tiếp cận với tri thức khoa học không thuận lợi như công nhân các nước công nghiệp phát triển. Không ít công nhân lại từ nông dân mà ra, cho nên thuận lợi trong liên minh công nông nhưng cũng hạn chế vì chịu ảnh hưởng của những “thói hư tật xấu” của nông dân thành thị” (12).
Thực ra vai trò của trí thức trong quá trình cách mạng Việt Nam không phải lúc nào cũng được đánh giá như nhau. Trí thức hầu như xuất thân từ giai cấp nào cũng có, nhưng bản thân nó không là giai cấp nào cả. Trước đây ở Trung Quốc, trí thức được xem là một giai cấp. Từ điển Từ Hải gọi là “giai cấp tri thức” (Intelligentsia), về sau không còn gọi là giai cấp nữa. Do đó, đối với “trí thức không khỏi có lúc có cách nhìn không hợp lý. Chẳng hạn quy họ về thành phần tiểu tư sản, hoặc thậm chí “nhận lầm”, họ là đối tượng của cách mạng. Thực ra, tầng lớp trí thức cũng có nhiều hạn chế, chẳng hạn lập trường bấp bênh, thoát ly thực tế, giáo điều... Đó là chưa kể đến kẻ sĩ thời xưa thuộc hạng “dài lưng tốn vải”, hữu danh vô thực, thường được gọi là “sinh đồ ba quan” mà Phan Huy Chú đã than phiền: “Từ khi kẻ nịnh thần đề nghị đổi phép thi, hạng sinh đồ ba quan đầy cả trong thiên hạ. Người trên do đó lấy tiền mà không ngại, kẻ dưới nộp tiền để đỗ mà không biết thẹn, làm cho trường thi thành ra chỗ buôn bán” (13).
Xét cho cùng thì những “kẻ sĩ” sinh đồ ba quan này đáng thương hơn là đáng trách, bởi vì họ cũng chỉ là những sản phẩm xã hội “chợ chiều” chứ không phải là những nụ hoa của xã hội sang xuân. Giá như tình trạng nói trên chỉ là nhất thời thì Phan Huy Chú làm sao có thể cảm thán được :
“Ôi! Nếu là việc quyền nghi một thời thì còn có thể được, đến lúc thanh bình mà cũng vẫn theo như thế, có phải là điều lệ của thời thịnh đâu!” (14).
Kẻ sĩ trong lịch sử kể cũng “ba chìm bảy nổi”, tuy nhiên xã hội phát triển theo xu hướng kinh tế tri thức là điều tất yếu thì vai trò của trí thức cũng tất yếu ngày càng quan trọng. Dầu gì đi nữa thì lịch sử cũng đã chứng minh rằng một dân tộc không thể tiến lên phía trước nếu dân tộc đó không xem trọng trí thức của dân tộc mình.
Nội hàm của khái niệm “kẻ sĩ” được thay đổi trong lịch sử thì nội hàm của khái niệm “trí thức” chẳng nhẽ lại dừng ở đây ? Liệu ngày nay có nên vẫn cứ lấy tiêu chuẩn lao động trí óc và lao động chân tay để phân chia trí thức và công nông nữa chăng ?
Đương nhiên hiện nay vẫn còn khác biệt giữa lao động trí óc và lao động chân tay, ranh giới giữa công nhân và trí thức vẫn còn. Nhưng ranh giới này càng ngày càng thu hẹp, vừa là công nhân vừa là trí thức, vừa là trí thức vừa là công nhân. Trí thức do công nhân đào tạo ra thì tại sao lại cần phải “công nhân hóa trí thức” nữa ?
Quá trình phát triển của xã hội loài người là quá trình khẳng định sự “tách rời"” giữa lao động trí óc và lao động chân tay và cũng là quá trình phủ nhận điều đó. “Thống nhất” giữa lao động trí óc và lao động chân tay cũng là xu hướng tất yếu. Công nghệ thông tin trong thời đại ngày nay sẽ là đôi đũa thần đang biến cái tưởng chừng như khả năng xa vời đó trở thành hiện thực trước sự ngỡ ngàng của nàng “lọ lem” lịch sử về hình ảnh của cái gọi là “kẻ sĩ” một thời.
Chú thích
(1) Truyện Kiều: “Bây giờ kẻ ngược người xuôi, biết bao giừ lại nối lời nước non”. Nhị độ mai: “Rồi đây kẻ Bắc người Nam, Cành hoa xin tặng để làm của tin”. Từ điển thành ngữ, tục ngữ Việt Nam, Nxb Văn hóa, Hà Nội, l995, tr. 461: “Kẻ cả đàn anh”. (2) Thời ngũ đế (thế kỷ XXVI - XXII Tr.CN), “sĩ” chỉ quan coi hình ngục. Chữ “sĩ” trong Kim văn có hình cái rìu, tức là vũ khí của quan coi ngục. Xem Tìm về cội nguồn chữ Hán, Nxb Thế Giới, Hà Nội, 1997, mục chữ “sĩ”. (3) Ở Trung Quốc thường gọi là “tri thức phần tử” 知 識 份 子, ở Việt Nam lại gọi là “phần tử trí thức” xin lưu ý là “trí” 智chứ không phải là “tri” 知. Từ điển Hán – Pháp (Dictionaire Chinols - Francais) thương vụ Ấn thư quán, Bắc kinh, 1959, dịch “tri” 知 là savoir, connaitre, “trí” 智 là intelligence, sagesse. (4) Từ điển triết học, Nxb Tiến bộ, Mát-xcơ-va, 1986, tr. 365. (5) Phan Huy Chú, Lịch triều hiến chương loại chí, Nxb KHXH, Hà Nội, 1992, t.2, tr. 209, 214. (6) Phan Huy chú, Sđd, tr. 169. (7) Trích theo Triết học đại từ điển, Phùng Khiết chủ biên, Thượng Hải từ thư xuất bản xã, Thượng Hải, 1991, tr. 1013. (8) Các Mác – Phri-drich Ăng-ghen tuyển tập (6 tập). Nxb Sự thật, Hà Nội, 1980, t.l, tr. 291. (9) Ph. Ăngghen, Chống Duy-rinh, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1976, tr. 293. (10) Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Nxb sách giáo khoa Mac-Leenin, Hà Nội, 1979, t.3, tr. 408. (11) Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Sđđ, tr. 410. (12) Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Sđđ, tr. 415. (l3) Phan Huy Chú, Lịch triều hiến chương loại chí, Nxb KHXH, Hà Nội, 1992, t. 2, tr. 170. (14) Sđd, tr. 170. Nguồn:
Văn hóa đạo đức - NXB Tp. HCM Số lượt đọc:
1343
-
Cập nhật lần cuối:
26/05/2009 06:50:06 PM
Trao đổi/Nhận xét | Tổng số:
5 |
Thông cảm với cái khó của tác giả Tác giả muốn chứng minh vai trò quyết định của trí thức trong tiến bộ xã hội, nhưng khó khăn là không được quên "vai trò lãnh đạo" của giai cấp công nhân. Viết thế nào để được công bố là cả vấn đề. Theo tôi điều này khiến người viết lúng túng.
Tôi tin rằng công nhân tri thức sẽ là đội ngũ chủ lực trong sản xuất ở xã hội tương lai, nhưng khi đó vẫn có tầng lớp trí thức và đây vẫn là tầng lớp tinh hoa.
Sự việc đã rõ ràng sau 50 năm theo dõi, chúng ta thấy rằng công nhân lao động chân tay "huỳnh huỵch" không thể là tinh hoa, cũng không thể lãnh đạo nói chung và nhất là lãnh đạo tầng lớp tinh hoa. Thu hoạch và... phản thu hoạch khi đọc bài này Sự xuất hiện lớp người chuyên lao động trí óc khiến loài người ngày càng bỏ xa loài vật. Phương Đông gọi lớp người này là "kẻ sĩ". Tác giả bài này lý lẽ dài dòng về nguồn gốc của danh từ "sĩ", tôi cứ tưởng ông là nhà ngôn ngữ học. Té ra không phải. Dẫu sao, ông cũng cho ta biết, kẻ sĩ là người được đáo tạo công phu (dù là Võ hay Văn) để đảm trách những chức năng xã hội mà lao động chân tay thuần tuý không thể làm nổi.
Tôi đống ý với bạn nguyenvando: Ở xã hội nào (dù là Xưa hay Nay) thì kẻ sĩ (trí thức) cũng là tinh hoa, là bộ óc của một cơ thể.
Bản thân tầng lớp Sĩ không phải là nhóm thống trị (cầm quyền) mặc dù có những cá nhân Kẻ Sĩ có thể nắm quyền (dù tạm thời hay vĩnh viễn; và khi đó ông ta không còn là Kẻ Sĩ nữa). Đó là điều tôi chưa đồng ý với tác giả.
Hành xử của Kẻ Sĩ trong xã hội là do xã hội quy định, không phải do họ muốn mà được. Do vậy, quan sát cách hành xử và thân phận của trí thức (kẻ sĩ), ta có thể suy ra bản chất của xã hội đó. Có những xã hội bản chất phong kiến, nhưng trá hình dân chủ, sẽ lộ bộ mặt thất khi nghiên cứu cách hành xử của kẻ sĩ trong xã hội đó.
Đặc trưng hành xử của Kẻ Sĩ trong xã hội phong kiến (mà tôi thu nhận được) là:
- Phải tôn thờ đạo Khổng, ở mức coi đó là tôn giáo của mình. Cấm nói gì trái với giáo lý, nếu không muốn bị tước các quyền ư đãi. - Chỉ có con đường làm quan, phục vụ trong biên chế của triều đình. - Chỉ cần trung với VUA (hiếu với dân); vì Vua tự nhận là biểu trưng của NƯỚC.
Kẻ sĩ ngày nay sống trong xã hội thật sự dân chủ, hành xử khác hẳn. Nếu không như vậy thì coi lại xã hội đó có thật dân chủ không. Chưa rõ lắm: Kẻ sĩ xưa và nay - Xưa, kẻ sĩ đứng đầu tứ dân (sĩ, nông, công, thương) và là tinh hoa của xã hội. Điều này đã có cả ngàn năm lịch sử.
- Nay, thân phận kẻ sĩ ra sao, tác giả không lý giải cho sáng sủa, chặt chẽ. Số phận đen đủi của "kẻ sĩ" ngày nay, thực ra chỉ xảy ra ở một số nơi, mới trải nửa thế kỷ thôi. Có ý kiến nói, nếu coi xã hội là một cơ thể thì cơ thể này (muốn tồn tại và phát triển) phải thu nhận được thông tin, xử lý các thông tin đó và ra những quyết định phù hợp. Không như vậy, sẽ diệt vong. Tóm lại, cơ thể phải có các giác quan và bộ óc. Trí thức chính là "giác quan" và "bộ óc" của cái cơ thể - xã hội vậy.
Xã hội khôn ngoan là đào tạo đông đảo trí thức (có tư duy độc lập và có sứ mệnh phản biện) và đặt tầng lớp này đúng vị trí và vị thế. Giáo dục nước nhà sẽ đưa VN ra khỏi tình trạng nghèo nàn, lạc hậu... chứ không phải gì khác. Buồn nhất là hiện nay giáo dục nước nhà xuống cấp, lạc hậu, có người (cụ Hoàng Tuỵ) còn nói là khủng hoảng. Sản phẩm của GD chủ yếu là người chỉ biết "gọi thì dạ, bảo thì vâng" (như tôi đây). Tác giả lý lẽ dàn trải, vẫn không nói được chủ kiến của mình: "kẻ sĩ" ngày xưa và ngày nay có số phận và thân phận khác nhau thế nào, và cái gì đưa đến sự khác nhau đó.
Vị nào tiếp thu được ý tưởng chủ đạo của bài viết, xin cho vài ý kiến giúp tôi với. Tư duy tôi lộn xộn, không sao tóm được mạch chính Tôi cố nắm bắt quá trình tư duy của tác giả, nhưng không sao tóm được cái chú lươn này. Nó cứ tuột đi.
Tìm hiểu từ nguyên của "sĩ" cũng là một đề tài về ngôn ngữ học, nhưng gắn vào đây thì rất không hợp, chẳng để làm gì, vì nay khái niệm về "sĩ" đã khác xưa rất nhiều.
Thời nguyên thuỷ (mông muội) con người lao động chân tay cực nhọc như con vật, cho đến khi xuất hiện tầng lớp "sĩ". Xã hội nào cũng coi "sĩ" là tinh hoa. Tuy vậy, một số xã hội đã kỳ thị "sĩ" và rất sợ, rất cảnh giác với "sĩ". Ví dụ, thời bạo chúa Tần Thuỷ Hoàng. May mắn, đó chỉ là thời kỳ ngắn ngủi và đen tối của một bộ phận nhân loại. Nếu kéo dài, ắt con người sẽ quay lại cuộc sông con vật. Tác giả bài này không cần thương hại cho thân phận "sĩ" trong vài ba xã hội bất thường nào đó. "Sĩ" ở đó sẽ có cách thoát khỏi thân phận bạc bẽo của mình, sẽ chiếm lại địa vị tinh hoa. Và cứu toàn xã hội. Mác nhận định rằng cách mạng vô sản chỉ thành công ở những nước công nghiệp phát triển cao nhất và phải cùng nổ ra ở nhiều nước. Ông chưa nói gì về "chủ nghĩa xã hội". Mà đó là sự sáng tạo sau này của lãnh tụ thiên tài Lênin.
Mác dự kiến Đức sẽ là nước khơi mào cách mạng vô sản. Nếu công nhận nhận định này là chính xác thì nay có thể hy vọng vào Mỹ. Ở nước Mỹ hiện nay, có 1,8 triệu nông dân làm ra số sản phẩm đủ nuôi gần 300 triệu dân Mỹ. Mặt khác, nông dân Mỹ thực chất là công nhân nông nghiệp. Nếu cách mạng cộng sản xảy ra ở Mỹ thì không có chuyện "liên minh công nông". Dẫu vậy, cách mạng cộng sản cũng chưa thể thành công ở Mỹ, vì xã hội này mới chỉ đang hình thành giai cấp "công nhân trí thức". Nó sẽ lớn lên đủ tầm để quyết định vận mệnh xã hội. Đó là thời tương lai. Trên thực tế, trái với ý kiến của Mác, cách mạng thành công ở những nước nông nghiệp lạc hậu (Nga, TQ, VN, Đông Âu...). Tại đó, Nông dân chiếm đại đa số. Bắt buộc phải có liên minh công-nông, nhiệm vị trước mắt là giành độc lập. Và sự phát triển công nghiệp ở các nước này quá thấp để xây dựng xã hội cộng sản. Vậy phải sáng tạo ra giai đoạn trung gian. Đó là chủ nghĩa xã hội (Mác không nói tới nó), mà đó là công của Lênin.
Stalin là người có công đề xuất "chủ nghĩa Mác-Lênin", chứ bản thân Mác hay Lenin không nghĩ rằng sau này có người ghép học thuyết của hai ông với nhau.
Vấn đề là tại sao dưới chế độ XHCN thì trí thức không còn là tinh hoa, bị gán cùng giai cấp với ông cắt tóc và chị hàng rong. Tôi không dám bàn.
Trong vào bài viết của tác giả thì rối rắm quá. Tôi đành nhận mình suy nghĩ lộn xộn, chớ sao dám bảo tư duy của tác giả có vấn đề? Khâm phục Tác giả bài này thoạt đầu đưa ra cái gốc của "sĩ" cứ tưởng ông sẽ bàn về tính cách của kẻ sĩ từ chế độ phong kiến, thuộc địa nửa phong kiến, phong kiến trá hình, rồi dân chủ tư sản...
Rốt cuộc, tác giả đã lái chúng ta sang vấn đề khác.
Khâm phục! Khâm phục!!!
Ý kiến của bạn về bài viết: |  |
Thông tin liên quan: “Vua hiền có Lê Thánh Tông”09/02/2010 11:55' AM Cách đây gần bảy mươi năm, năm 1942, trong bài diễn ca Lịch sử nước ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “... Vua hiền có Lê Thánh Tông...”. Thánh Tông là miếu hiệu của Lê Tư Thành, con thứ tư, cũng là con út của vua Lê Thái Tông (1423 - 1442). Góp bàn về tư tưởng học thuật của Trương Tửu14/12/2009 04:46' PM Nhưng điều đặc biệt quan trọng ở đây là trong công trình của Trương Tửu không thấy có chỗ nào bộc lộ quan điểm trên của Trotsky, thậm chí có biểu hiện ngược lại, nếu liên hệ một cách gián tiếp. Trương Tửu chủ yếu viết về văn học cổ điển (thơ ca dân gian, Truyện Kiều, Nguyễn Công Trứ, v.v.. Hoàng giáp Nguyễn Khắc Niêm & Tứ tôn châm01/10/2009 02:21' PM Hoàng giáp Nguyễn Khắc Niêm là một trong số rất ít người đậu đại khoa thời phong kiến khi ở cái tuổi còn rất trẻ như thế. Khi thi đỗ đại khoa, được cùng các vị tiến sĩ đồng khoa triều kiến vua Thành Thái, nhà vua đề nghị mỗi vị tân khoa tiến sĩ hãy góp kế sách để phục hưng quốc gia, Nguyễn Khắc Niêm đã đọc 4 câu như sau: Nghĩa chữ dân21/09/2009 09:38' AM Chữ dân ai ai lại lạ gì, song danh hiệu thì rất là tầm thường, mà nói đến ý nghĩa thì có hơi phức tạp, vì theo thời đại, cùng đối với cái phương diện mà thành ra giới hạn có rộng hẹp, vị trí có sang hèn, trình độ có cao thấp. Người ta thấy thế, phân loài, chia hạng, là lạc lối sai đường, mà cái hại nhất là ở bên Á Đông ta, bởi những học thuyết ô mị, cùng thói quen bó buộc, in vào trong não người, đến mấy trăm lớp. Nho sĩ và trí thức hiện đại12/09/2009 09:15' AM Giống như quan lại thời xưa, mấy nghìn trí thức được đào tạo dưới thời thuộc địa ở các trường đại học bên Pháp hay ở Hà Nội đều sống xa nhân dân. Chúng tôi là những người thành thị thuần túy trong một nước mà 95% dân sống ở nông thôn. Khi các nho sĩ ra lời kêu gọi, cả nước từ Nam ra Bắc đều hưởng ứng, vì sống trong làng, hàng ngày, nhà nho có quan hệ mật thiết với nông dân. Chúng tôi thì bị chìm giữa đất nước, không có kim chỉ nam, không có gậy chỉ đường. Nho sĩ và trí thức hiện đại 01/01/1900 12:00' AM Giống như quan lại thời xưa, mấy nghìn trí thức được đào tạo dưới thời thuộc địa ở các trường đại học bên Pháp hay ở Hà Nội đều sống xa nhân dân. Chúng tôi là những người thành thị thuần túy trong một nước mà 95% dân sống ở nông thôn. Khi các nho sĩ ra lời kêu gọi, cả nước từ Nam ra Bắc đều hưởng ứng, vì sống trong làng, hàng ngày, nhà nho có quan hệ mật thiết với nông dân. Chúng tôi thì bị chìm giữa đất nước, không có kim chỉ nam, không có gậy chỉ đường. Nhà học giả phải có một cái quê hương10/09/2009 09:04' AM "Đạo lý vẫn không có quê hương, mà nhà học giả phải có một cái quê hương” (La science n’a pas de patrie, l’homme de science doit en avoir une); đó là câu của ông Pasteur. Thật là một câu nói, không những có ý nghĩa sâu xa mà gồm cả lịch duyệt kinh nghiệm. Phàm chân lí ở trong vũ trụ là của chung cả loài người không riêng gì cho ai. Chân lí mà đã phát minh ra, thì không kỳ xưa nay không hạn đông tây, ai mà chuyên học đạo lí, có lòng yêu trọng chân lí, phục tùng chân lí, thì cái chân lí đó, mình có thể nhận làm của mình, mà không có ai giành xé ngăn trở được. Nói về trí thức, tại sao cứ phải thêm “đích thực”?28/08/2009 05:38' AM Thói háo danh đang phát triển tới mức kệch cỡm trong trí thức. Mà đây là lớp trí thức mới, vì nước ta đã nước XHCN từ nhiều thập kỷ nay. Dẫu vậy, trong bài tác giả vẫn dẫn ra những sự kiện xảy ra từ thời phong kiến. Điều này có lý, vì từ lâu trí thức ta đã bị nhận xét là có dáng dấp một ông quan văn – nghĩa là háo danh và “phò chính thống”. Vậy môi trường nào đã tạo ra và nuôi dưỡng cái dáng dấp quan văn này của của giới trí thức mới? Nguyễn Mạnh Tường - Nhà giáo mẫu mực và tài năng01/08/2009 03:53' PM "Điều hết sức quan trọng và quyết định đỉnh cao là tự học, ra thư viện, đọc rất nhiều, phát huy óc xét đoán, phê phán. Xác định mục tiêu, quyết tâm vượt mọi gian khổ, làm đều, làm đều là bí quyết của thành công. " Tôn vinh trí tuệ và trí thức Việt09/07/2009 04:41' PM VN là một quốc gia nhỏ nhưng đã lập nước và giữ nước thành công suốt hơn hai thiên niên kỷ, cho dù có lúc phải sống dưới ách nô dịch và dã tâm đồng hóa trong gần 1.000 năm Bắc thuộc. Chế độ xã hội với trí thức03/07/2009 02:11' PM Mỗi chế độ xã hội đều có tầng lớp lao động trí óc của mình với tiêu chuẩn và tên gọi riêng. Nói một cách danh chính và chặt chẽ, trí thức đúng nghĩa chỉ xuất hiện trong những xã hội đã có dân chủ, tự do; nhất là tự do báo chí. Cách mạng tư sản Pháp thành công năm 1789, nhưng hơn một thế kỷ sau mới ra đời từ trí thức; chính là vì phải đợi cho tự do, dân chủ phát triển đạt yêu cầu. Nhưng ở thế kỷ XX, nhiều nước châu Á tuy rất nặng căn phong kiến mà chỉ cần vài thập niên đã có đủ dân chủ, tự do để trí thức “đúng nghĩa” xuất hiện. Thế ký XXI hẳn phải nhanh hơn nữa. Phẩm cách quan trọng của người trí thức21/06/2009 07:09' AM Giáo sư Nguyễn Huệ Chi chia sẻ với SVVN về tư cách của trí thức, và sứ mệnh của trí thức trong sự nghiệp đưa đất nước ngày một cường thịnh. Cải cách trí tuệ và luân lý25/05/2009 03:39' PM Trong một bài viết trước tôi có ám chỉ đến sự cần thiết phải tiến hành một cuộc "cải cách trí tuệ và luân lý" ở xứ này, và tôi đã nói rằng cuộc cải cách đó chủ yếu phải là công việc của giới tinh hoa nước Nam, những người phải có ý thức về chính mình, về bổn phận và trách nhiệm của mình. Trí thức nửa mùa11/05/2009 09:53' AM Ở nước Nga, trong thế kỷ XX đã hình thành một tầng lớp xã hội, được coi là trí thức, nhưng trên thực tế lại không phải là như thế. Chính các đại diện của tầng lớp này, chứ không phải giới trí thức, đã đóng vai trò chủ yếu trong những cuộc cải cách đầy tai họa hồi những năm 80 và những năm 90 của thế kỷ vừa qua. Đấy là tầng lớp trí thức nửa mùa. Báo chí - nhà báo và sự hình thành tầng lớp trí thức hiện đại đầu thế kỷ XX09/05/2009 09:07' AM Khái niệm trí thức hiện đại ở đây được hiểu trong sự đối nghĩa với trí thức - kẻ sĩ (sẽ được giới thuyết cụ thể trong phần tiếp theo của bài viết) trong xã hội Việt Nam truyền thống. Sự hiện diện của tầng lớp trí thức hiện đại, trên thực tế, mới chỉ xuất hiện ở giai đoạn cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX. Bài viết này sẽ tập trung làm sáng tỏ vai trò của báo chí - một thiết chế văn hóa có nguồn gốc phương Tây - đã đóng vai trò như một dung môi, một tiền đề vật chất cho sự xuất hiện của tầng lớp trí thức hiện đại như thế nào. Hành xử của trí thức dưới chế độ cũ05/05/2009 09:36' AM Chế độ phong kiến (và trước nữa) mọc lên từ nền văn minh nông nghiệp, trải hàng chục ngàn năm, nay đã hết vai trò lịch sử khi loài người chuyển sang nền văn minh công nghiệp dành cho một chế độ mới. Do quá trình tàn lụi kéo dài hàng thế kỷ, chế độ cũ vẫn để lại những tàn dư, biến tướng, kể cả trá hình, nhất là ở phương Đông. Đó là nơi chế độ phong kiến tồn tại quá lâu, hơn nữa nó bị lật đổ không phải bằng sự lớn mạnh của giai cấp tư sản, do vậy sự xoá bỏ khó mà triệt để - nhất là xoá bỏ nền kinh tế tiểu nông: nơi sản sinh và nuôi dưỡng ý thức hệ phong kiến. Tri thức và trí thức17/04/2009 02:01' PM Trong xu hướng tiến hóa của xã hội, vai trò của tri thức và trí thức ngày càng quan trọng hơn. Bài viết thứ hai của Giáo sư Nguyễn Ngọc Lanh trong chủ đề thảo luận "Trí thức Việt Nam" phân tích một số nhận thức về vai trò của tri thức. Suy nghĩ về khái niệm trí thức14/04/2009 10:58' AM Có nhiều định nghĩa trí thức, rất dễ tìm trên internet. Không chỉ nhiều, mà rất nhiều, cho thấy đến nay định nghĩa trí thức vẫn chưa thật định hình. Do vậy, khi bàn về trí thức thường người ta phải xác định khái niệm trước khi bàn tiếp. Nhiều nhà trí thức lớn cũng đưa định nghĩa của mình, trong đó có những định nghĩa mới chỉ nêu tính cách đặc trưng hơn là nêu bản chất. Sĩ phu, trí thức nước nhà xưa và nay06/04/2009 08:29' AM Không ai nâng cao được vai trò của trí thức nếu giới trí thức của chúng ta không tự khẳng định được mình! Không ai san sẻ trách nhiệm với trí thức được; chỉ có trí thức mới thi hành được thiên chức của mình; vinh quang và cay đắng gắn liền với thiên chức ấy cũng chỉ dành riêng cho giới trí thức mà thôi! Để có lớp trí thức xứng đáng07/01/2009 11:16' AM Thời thế tạo anh hùng thì cũng thời thế, cơ chế tạo ra phẩm chất người trí thức. Nói rõ hơn là hoàn cảnh chính trị xã hội, là bản lĩnh, tài năng các nhà lãnh đạo quốc gia, và một phần chính yếu, là môi trường giáo dục đương thời. Cho nên tôi rất tán thành hãy bắt đầu bằng vấn đề giáo dục để bàn chuyện xây dựng lớp trí thức mới. "Tư duy lang thang" trong duy cảm nghề nghiệp08/02/2010 03:56' PM Duy cảm là trình độ thấp nhất của tư duy nghề nghiệp, duy tình là trình độ thấp nhất của xử thế. Đó cũng là một trạng thái cực đoan cá nhân mà chúng ta cố gắng vượt lên trên nó (chứ không nên duy ý chí mà phủ định nó) Năm mới bàn về Độc lập – Tự do – Hạnh phúc08/02/2010 10:44' AM Ngay sau ngày Quốc khánh 2-9-1945 cho đến nay, trong mọi văn bản hành chính, dưới quốc hiệu là tiêu đề “Độc lập – Tự do – Hạnh phúc” như một khát vọng lớn lao của dân tộc. Trước thềm năm mới 2010 đầy hoài niệm những thành công trong quá vãng và thao thức hy vọng vào tương lai, chúng tôi đã có cuộc phỏng vấn nhà nghiên cứu Nguyễn Trần Bạt, tác giả cuốn “Cội nguồn cảm hứng” chứa đựng nhiều suy ngẫm sâu sắc, thú vị xung quanh ba giá trị “Độc lập – Tự do – Hạnh phúc” nêu trên… Hổ Đông, hổ Tây08/02/2010 05:10' AM Sách Minh Tâm Bửu Giám có câu “Họa hổ hạ bì nan họa cốt/ Tri nhân tri điện bất tri tâm…” (vẽ cọp vẽ da được, khó vẽ xương/ Biết người biết mặt mũi, chẳng biết lòng dạ). Vẽ hổ chẳng dễ, nhưng một trong hững con vật được vẽ nhiều nhất từ Đông sang Tây, từ cổ chí kim chính là hổ. Tản mạn về hạt dưa06/02/2010 07:58' AM Tôi chưa đọc được một cứ liệu văn hóa ẩm thực nào đưa ra giải thích về sự xuất hiện đĩa hạt dưa trong mâm bánh trái đãi khách ngày Tết. Người ta quên đi gốc gác của hạt dưa, nhưng lại thân thiện, thậm chí xem nó như một phần không thể thiếu trong câu chuyện... Thế hệ04/02/2010 04:24' PM Thế hệ Cụ của các anh, đầu thế kỷ 19, làm quan tại triều, quát lính gông cổ quan tham. Thế hệ Ông của các anh, cuối thế kỷ 19, học tài, đỗ cao, lo trị dân, lo việc giáo dục, lo đắp đê chống lụt. Về già từ quan, uống rượu, làm thơ chống Pháp và bàn chuyện Duy tân, cách tân... Ngày Xuân nhẩn nha ngẫm chuyện Hổ tướng04/02/2010 03:47' PM Ngũ hổ tướng chắc có nhiều bảng xếp hạng, nhưng chắc nổi bật nhất là năm danh tướng của.Lưu Bị, chủ yểu được phổ biển là nhờ bộ Tam quốc diễn nghĩa của La Quán Trung. Nguyên việc xếp hạng ngôi thứ của năm ông này cũng khiến người hâm mộ miệt mài tranh luận truyền đời. Tạm coi thứ tự: Quan, Trương, Triệu, Mă, Hoàng. Kế thừa tinh thần yêu nước truyền thống của dân tộc ta trong bối cảnh toàn cầu hóa02/02/2010 11:11' AM Tinh thần yêu nước là giá trị cơ bản trong hệ giá trị truyền thống của dân tộc Việt Nam ta. “Tình cảm và tư tưởng yêu nước là tình cảm và tư tưởng lớn nhất của nhân dân, của dân tộc Việt Nam" và “chủ nghĩa yêu nước là sợi chỉ đỏ xuyên qua toàn bộ lịch sử Việt Nam từ cổ đại đến hiện đại... Tuổi trẻ và địa vị làm người02/02/2010 11:00' AM Bốn hay năm năm ở đại học như qua một chuyến đò ngắn, trong cả một cuộc đời lúc nào cũng cần học, tự khám phá những tiềm năng của chính mình và vượt qua chính mình. Thế nhưng, đại học là một giai đoạn quan trọng của bước chuyển trưởng thành ở một đời người... Bài khác: Chủ nghĩa nhân văn Việt Nam - Hồ Chí Minh, một tầm nhìn triết học19/05/2009 09:11' AM Dân tộc Việt Nam ta trong quá trình đấu tranh và xây dựng đã hình thành nên chủ nghĩa nhân văn Việt Nam Và ngày nay đã phát triển lên đỉnh cao mới mà ở đó chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh đã kết tinh cả chủ nghĩa nhân văn Việt Nam, chủ nghĩa nhân văn Đông Tây và nhân lại xưa nay- có tác dụng định hướng lớn và phát huy cao độ nội lực trong phát triển, hiện đại hóa và hội nhập... Từ một bài thơ suy nghĩ về sự khác biệt và thống nhất15/05/2009 01:36' PM Từ bài thơ “Khúc ca Đông- Tây”của R.Kipling, tác giả trình bày suy nghĩ của mình về sự thống nhất và khác biệt giữa Đông và Tây, rộng ra là sự thống nhất trong đa dạng của văn hoá. Với giả thiết rằng sự khác biệt Đông- Tây nằm ẩn sâu trong truyền thống văn hoá, văn minh Đông - Tây, tác giả đi tìm nguyên nhân của sự khác biệt đó. Cuối cùng, tác giả khẳng định rằng, thống nhất trong đa dạng chính là nguyên tắc để đi đến một sự phát triển hoà bình, ổn định và bền vững cho nhân loại. Cách đây một thế kỷ, những người khổng lồ12/05/2009 03:12' PM Quả thực, hồi đầu thế kỷ XX, chúng ta từng có được một thế hệ vàng. Quả thật đấy là thời kỳ của những người khổng lồ. Để có được ngày hôm nay của đất nước, không phải chỉ có cách mạng và chiến tranh. Hoặc nói cho đúng hơn, chính những con người như vậy, vào một thời điểm chuyển động quan trọng của lịch sử, đã góp phần không hề nhỏ chuẩn bị tinh thần, trí tuệ, cả chí khí nữa cho dân tộc để có được cách mạng thành công và chiến tranh giải phóng thắng lợi. Trí thức nửa mùa11/05/2009 09:53' AM Ở nước Nga, trong thế kỷ XX đã hình thành một tầng lớp xã hội, được coi là trí thức, nhưng trên thực tế lại không phải là như thế. Chính các đại diện của tầng lớp này, chứ không phải giới trí thức, đã đóng vai trò chủ yếu trong những cuộc cải cách đầy tai họa hồi những năm 80 và những năm 90 của thế kỷ vừa qua. Đấy là tầng lớp trí thức nửa mùa. Khoa học, Lý trí và Nhân tình thế thái10/05/2009 04:45' PM Tự nhiên được chi phối bởi các qui luật phổ biến mà trí tuệ loài ngưới có thể lĩnh hội được. Niềm tin vào tính hợp lý của Thế giới, đã vượt cả ra ngoài lĩnh vực Vật lý và xâm nhập vào mọi địa hạt hoạt động của con người trong suốt nhiều Thế kỷ, bởi tin rằng, đó chính là hiện thực, là vĩnh cửu... Báo chí - nhà báo và sự hình thành tầng lớp trí thức hiện đại đầu thế kỷ XX09/05/2009 09:07' AM Khái niệm trí thức hiện đại ở đây được hiểu trong sự đối nghĩa với trí thức - kẻ sĩ (sẽ được giới thuyết cụ thể trong phần tiếp theo của bài viết) trong xã hội Việt Nam truyền thống. Sự hiện diện của tầng lớp trí thức hiện đại, trên thực tế, mới chỉ xuất hiện ở giai đoạn cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX. Bài viết này sẽ tập trung làm sáng tỏ vai trò của báo chí - một thiết chế văn hóa có nguồn gốc phương Tây - đã đóng vai trò như một dung môi, một tiền đề vật chất cho sự xuất hiện của tầng lớp trí thức hiện đại như thế nào. Tám mẩu suy nghĩ về giới trẻ và Élite06/05/2009 03:59' PM Giới trẻ cũng có nhiều người hay, có những người thật sự là élite của xã hội mới, ở nhiều khía cạnh họ tinh hoa hơn bọn tôi nhiều lắm. Nhưng người élite trẻ thì có, còn giới élite trẻ thì chưa. Hành xử của trí thức dưới chế độ cũ05/05/2009 09:36' AM Chế độ phong kiến (và trước nữa) mọc lên từ nền văn minh nông nghiệp, trải hàng chục ngàn năm, nay đã hết vai trò lịch sử khi loài người chuyển sang nền văn minh công nghiệp dành cho một chế độ mới. Do quá trình tàn lụi kéo dài hàng thế kỷ, chế độ cũ vẫn để lại những tàn dư, biến tướng, kể cả trá hình, nhất là ở phương Đông. Đó là nơi chế độ phong kiến tồn tại quá lâu, hơn nữa nó bị lật đổ không phải bằng sự lớn mạnh của giai cấp tư sản, do vậy sự xoá bỏ khó mà triệt để - nhất là xoá bỏ nền kinh tế tiểu nông: nơi sản sinh và nuôi dưỡng ý thức hệ phong kiến. |