 | Thông tin liên quan: Tâm tình với trí thức người Việt Nam ở nước ngoài27/07/2010 08:47' AM Bản chất của cuộc đời nằm trong nhiều cặp phạm trù triết học mà buộc mỗi con người sinh ra và lớn lên ở bất cứ nơi đâu trên trái đất này cần phải hiểu để thành đạt. Song có những cặp phạm trù mà đã là con người thì cần phải quan tâm, đặc biệt con người đã trưởng thành và có chút thành đạt với đời. Việt nam khai quốc: cuộc nổi dậy năm 68701/01/1900 12:00' AM Sau khi đốt nhang, Thường Minh lâm râm khấn rằng: “Xin các vị thần linh
đất nước hãy hiển linh giống chân dung này để chứng giám lòng thành.”
Theo Lý Thường Minh kể lại, đêm hôm đó, có hai vị thần hiện về trong
giấc mơ của ông; Việt nam khai quốc: Những người đi hành hương và những người thương nhân (chương V, phần 3)01/01/1900 12:00' AM Trong thế kỷ 7 và đầu thế kỷ 8, vì đế quốc Đường củng cố được sự cai trị
trên phần lớn châu Á Châu khiến nhiều Phật tử ở Đông Á có dịp đi hành
hương đất Phật ở Ấn Độ và Tích Lan. An Nam Đô Hộ Phủ là địa điểm quan
trọng vì các chuyến hành hương bằng đường biển xuất phát từ đây theo. Việt nam khai quốc: kiểm tra dân số (chương V, phần 2)01/01/1900 12:00' AM Trong thời kỳ đô hộ An Nam Đô Hộ Phủ nhà Đường đã tiến hành kiểm tra dân
số tất cả 5 lần với các con số được lưu lại trong thư tịch theo Bảng 5.
Theo bảng thống kê dân số này thì số dân kiểm tra lần đầu tiên là theo
“số liệu cũ”, có lẽ vào khoảng đầu thế kỷ 8. Việt nam khai quốc: triệu quang phục (chương IV, phần 3)01/01/1900 12:00' AM Khi Lý Bí phải rút vào thung lũng Khuất Liễu sau khi bị Trần Bá Tiên đánh bại ở hồ Điển Triết vào năm 546 thì Triệu Quang Phục, con trai của Thái Phó Triệu Túc trở thành lãnh tụ kháng chiến trong đồng bằng sông Hồng. Triệu Quang Phục lập bản doanh trên một bãi đất nằm giữa khu đầm lầy ở Chu Diên mà nhân dân thường gọi là Đầm Nhất Dạ. Việt Nam Khai Quốc: Tổng Kết Chương 3–Bắc Triều và Lãnh Đạo Địa Phương (chương III, phần 6)01/01/1900 12:00' AM Suốt các thời kỳ được nhắc đến trong chương 3 này, Trung Quốc đã đô hộ
Việt Nam vừa không thường xuyên vừa không chính thức. Sự đô hộ ấy đến
và đi như nước triều lên xuống vì dân chúng Giao Châu ở nơi biên cương
xa xôi chỉ chực chờ nổi dậy tùy theo thế mạnh yếu của bắc triều. Việt nam khai quốc: Nhà Tống với Lâm Ấp (chương 3, phần 5)01/01/1900 12:00' AM Khi thay thế nhà Tấn cai trị Giao Châu, việc đầu tiên nhà Tống làm là tìm cách dẹp yên các cuộc quấy phá từ lân bang Lâm Ấp. Dưới trướng Phạm Dương Mại, một vị vua trẻ và luôn rắp tâm bắc tiến, năm 424, quân Lâm Ấp tiến chiếm phần còn lại của Nhật Nam và đột kích Cửu Đức. Việt Nam Khai Quốc: Nhà Tấn xuống miền Nam (chương 3, phần 3)01/01/1900 12:00' AM Tấn Vũ Đế, người có công khai lập Triều đại nhà Tấn, đã tìm cách phục hồi các di sản Hán và thống nhất Trung Quốc. Nhưng ngay sau khi ông băng hà vào năm 290, Trung Quốc lại lâm vào cảnh nội chiến qua phân do tính hiếu chiến và ham quyền lực cố hữu của các hoàng thân quốc thích nhà Tấn. Vài ý nhỏ nhân đọc bài Thử tìm hiểu tầng lớp trí thức Việt Nam06/07/2010 11:16' AM Khái niệm Chân - Thiện - Mỹ ra đời chính là để xác định một cách tổng quát nhất phẩm cách của trí thức. Trí thức chỉ tôn thờ (và dám hy sinh để bảo vệ) sự thật, cái thiện và cái đẹp. Đã là trí thức, không thể nín nhịn khi sự thật bị che dấu, cái giả dối lộng hành; cái thiện bị cái ác lấn lướt, cái đẹp chìm lấp trong cái xấu. Thử tìm hiểu tầng lớp trí thức Việt Nam21/06/2010 08:41' AM Ở nước ta hiện nay có một số khá đông người được xã hội, hoặc tự mình, coi là trí thức. Nhưng “thế nào là một trí thức?” thì hình như chưa bao giờ được cắt nghĩa một cách rõ ràng. Có thể đã có nhiều cá nhân trí thức, nhưng những con người đơn lẻ ấy đã quy tụ lại (chủ yếu là thông qua diễn đàn, dư luận) thành một giai tầng của xã hội như là tầng lớp trí thức chưa? Đặc điểm, tính cách của trí thức Việt Nam là gì? Vai trò và trách nhiệm của trí thức trước vận mệnh của dân tộc ta trong thời đại mới - thời đại kinh tế tri thức, thời đại hội nhập toàn cầu, là như thế nào? Trí thức Việt và hàng nghìn năm lề thói làng xã02/06/2010 04:39' PM Nhà phê bình mĩ thuật Phan Cẩm Thượng là người ít nói. Ông ưa ngồi lặng lẽ trầm tư, ưa “lánh mình” về những nơi chốn thâm nghiêm, yên tĩnh như những cổ tự, đình miếu...nơi ông đã có nhiều năm gắn bó, nghiên cứu, khảo sát các di sản văn hoá cổ. Tư chất của người làm nghiên cứu văn hoá khiến nhiều tác phẩm của ông đi ra ngoài phạm vi nghiên cứu chuyên biệt về mĩ thuật cổ. “Vua hiền có Lê Thánh Tông”09/02/2010 11:55' AM Cách đây gần bảy mươi năm, năm 1942, trong bài diễn ca Lịch sử nước ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “... Vua hiền có Lê Thánh Tông...”. Thánh Tông là miếu hiệu của Lê Tư Thành, con thứ tư, cũng là con út của vua Lê Thái Tông (1423 - 1442). Góp bàn về tư tưởng học thuật của Trương Tửu14/12/2009 04:46' PM Nhưng điều đặc biệt quan trọng ở đây là trong công trình của Trương Tửu không thấy có chỗ nào bộc lộ quan điểm trên của Trotsky, thậm chí có biểu hiện ngược lại, nếu liên hệ một cách gián tiếp. Trương Tửu chủ yếu viết về văn học cổ điển (thơ ca dân gian, Truyện Kiều, Nguyễn Công Trứ, v.v.. Hoàng giáp Nguyễn Khắc Niêm & Tứ tôn châm01/10/2009 02:21' PM Hoàng giáp Nguyễn Khắc Niêm là một trong số rất ít người đậu đại khoa thời phong kiến khi ở cái tuổi còn rất trẻ như thế. Khi thi đỗ đại khoa, được cùng các vị tiến sĩ đồng khoa triều kiến vua Thành Thái, nhà vua đề nghị mỗi vị tân khoa tiến sĩ hãy góp kế sách để phục hưng quốc gia, Nguyễn Khắc Niêm đã đọc 4 câu như sau: Nghĩa chữ dân21/09/2009 09:38' AM Chữ dân ai ai lại lạ gì, song danh hiệu thì rất là tầm thường, mà nói đến ý nghĩa thì có hơi phức tạp, vì theo thời đại, cùng đối với cái phương diện mà thành ra giới hạn có rộng hẹp, vị trí có sang hèn, trình độ có cao thấp. Người ta thấy thế, phân loài, chia hạng, là lạc lối sai đường, mà cái hại nhất là ở bên Á Đông ta, bởi những học thuyết ô mị, cùng thói quen bó buộc, in vào trong não người, đến mấy trăm lớp. |
“Kẻ sĩ” là từ dùng để chỉ những người thuộc tầng lớp trí thức trong lịch sử. Từ “kẻ” hoàn toàn là tiếng Việt, tiếng Nôm thường viết là 几, đó là chữ “kỷ” của Hán tự đọc theo âm Việt mà thành. Gọi là “kẻ” không hề biểu thị ý gì khinh rẻ cả (1). “Sĩ” là từ Hán - Việt, chữ Hán viết 士. Thời cổ đại, chữ “sĩ” vốn dùng để chỉ, quân đội, lực lượng vũ trang, thường gọi là võ sĩ, chứ không phải dùng để chỉ “trí thức” chỉ “văn nhân”. Thời cổ đại ở Trung Quốc, nước lớn (đại quốc) có “ba quân”, nước vừa (trung quốc) có “hai quân”, nước nhỏ (tiểu quốc) có “một quân”. Mỗi quân có một nghìn cỗ xe, mỗi cỗ xe có mười “sĩ” thống lĩnh, ngoài ra có nhiều lính gọi là tốt tùy tùng (2). Bây giờ ở quân đội còn gọi là “sĩ quan”, “binh sĩ”.
Về sau “sĩ” thông thường dùng để chỉ “văn” chứ không chỉ “võ” như thời cổ đại. Tại sao lại như vậy ?
Lý do như sau : thời cổ đại, nhà nước có hai việc quan trọng vào bậc nhất, đó là tế lễ trời đất và hoạt động quân sự (Quốc chi đại sự, duy tự dữ nhung). “Sĩ”, có nghĩa là người được giáo dục, huấn luyện chủ yếu là về quân sự, về sau do tình hình thay đổi, nên nội dung giáo dục, huấn luyện lại thiên về văn. Do đó, cùng là “sĩ” nhưng thời xưa chỉ quân nhân thời nay lại chỉ “tri thức”, khác nhau một trời một vực. Hiện nay, “kế thừa” lịch sử, người ta cũng gọi “sĩ” là “kẻ sĩ”, “kẻ sĩ” tức là “trí thức”, chỉ chung những người chủ yếu lao động bằng trí óc. Bao gồm : nhân viên kỹ thuật, thầy thuốc, giáo viên, cán bộ nghiên cứu khoa học, diễn viên, luật sư, những người hoạt động văn học nghệ thuật... ví dụ như bác sĩ, nhạc sĩ, họa sĩ , văn sĩ, ca sĩ…
Những người này thường được gọi là phần tử “trí thức” (3) (Intellectual), hình thành một đội ngũ, một tầng lớp trong xã hội, chứ không phải là một giai cấp.
Cũng có ý kiến cho rằng đặc điểm của “trí thức” là lao động trí óc, cho nên “trí thức” bao gồm cả những người ở tầng lớp thống trị :
“Nếu giai cấp công nhân và nông dân về nguồn gốc tồn tại đều về phía đại biểu của lao động chân tay thì tình hình đối với các đại biểu của lao động trí óc lại phức tạp hơn. Một mặt thuộc vào số này là các giai cấp thống trị mà đa số hợp thành một tầng lớp ăn bám, bóc lột lao động làm thuê (cả lao động trí óc lẫn lao động chân tay)”(4).
Như vậy những người thống trị cũng thuộc tầng lớp “trí thức” ? Thời kỳ phong kiến, chữ Hán gọi “trí thức” là “sĩ” 士, nhưng cũng gọi là quan là “sĩ”, có điều, chữ viết khác nhau một chút: 仕 (thêm bộ nhân đứng một bên). Cho nên “trí thức” và “làm quan” không xa nhau mấy. Mạnh Tử gọi tầng lớp quan lại là người “lao tâm” còn người dân lao động là “lao lực” từ đó cho rằng “người lao tâm cai trị người khác, còn người lao lực thì bị người khác cai trị” (lao tâm giả trị nhân, lao lực giả trị ư nhân, Mạnh Tử, Đằng Văn Công, thượng).

Không biết có nên xếp quan lại vào hàng ngũ “trí thức” hay không, nhưng thực ra những người mới hôm qua còn là kẻ sĩ hàn vi, hôm nay lều chõng đi thi đỗ đạt thì coi như đã thuộc về tầng lớp quan lại thống trị rồi. Điều đó nói lên rằng kẻ sĩ cũng rất gần với giai cấp thống trị. Tuy nhiên, không phải ai đi thi cũng đậu cả, ngược lại, đậu thì ít mà rớt thì nhiều. Có những khoa thi hàng ngàn thí sinh nhưng chỉ đậu được vài người, như khoa Đinh Mùi, năm Cảnh Trị thứ 5 (1667), đậu được ba người, khoa Tân Sửu, năm Cảnh Hưng thứ 42 (1781), đậu hai người(5). Những người thi rớt, nếu quyết tâm thì đi thi lại, nếu không thì về nhà, hoặc dạy dăm ba đứa học trò hoặc “đuổi gà cho vợ”, làm quan không được thì làm người vậy. Hoặc cũng có người thi đậu nhưng chán đời “trùm chăn” không chịu ra làm quan như Trạng Trình, Nguyễn Bỉnh Khiêm, La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp chẳng hạn, học hành đã vất vả rồi, lều chõng đi thi lại càng cực khổ trăm chiều:
“Vì thế, người làm ruộng, người đi buôn, cho đến người hàng thịt, người buôn bán vặt vãnh cũng đều làm đơn nộp tiền xin đi thi cả. Ngày vào thi đông đến nỗi giày xéo lẫn nhau, có người chết ngay ở cổng trường”(6).
Nói chung, đại đa số kẻ sĩ thường gần với dân chúng hơn. Cho nên ngày xưa, trong thời phong kiến, kẻ sĩ được xem là một trong “tứ dân”, nhưng được “may mắn” đặt ở hàng đầu: sĩ, nông, công, thương. Trong xã hội tư bản, trí thức cũng là tầng lớp góp phần tạo ra giá trị thặng dư. Cho nên Mác gọi là “kẻ lao động làm thuê”, hoặc xem họ như là “giai cấp vô sản lao động trí óc” (7). Tuy nhiên từ Đông sang Tây, ở đâu thì “kẻ sĩ” cũng xuất hiện muộn hơn cả so với nông dân và thợ thủ công (tiền thân của công nhân). Trong quá trình phân công của hội loài người, vào thời kỳ đầu của xã hội nguyên thủy, phân công xã hội chủ yếu dựa vào “tự nhiên” nghĩa là dựa vào tuổi tác, giới tính chẳng hạn. Khoảng gần cuối xã hội nguyên thủy, xã hội mới bắt đầu phân chia thành chăn nuôi, trồng trọt. Khi xã hội nguyên thủy tan rã, thợ thủ công bắt đầu tách ra từ nông dân. Đến đầu chế độ chiếm hữu nô lệ, giai cấp thương nhân xuất hiện, sau đó sự cách biệt giữa thành thị và nông thôn hình thành, xã hội phân chia thành lao động trí óc và lao động chân tay. Cho nên sự khác biệt giữa lao động trí óc và lao động chân tay đã tuyên bố sự bắt đầu của cái gọi là “phân công xã hội”:
“Phân công lao động chỉ trở thành sự phân công lao động thực sự từ khi xuất hiện sự phân chia thành lao động vật chất và lao động tinh thần” (8).
Như vậy, “kẻ sĩ” hay “trí thức” mà đặc điểm chủ yếu là lao động tinh thần hay lao động trí óc, chính là anh em sinh đôi với sự phân công lao động xã hội. Còn sự phân công lao động xã hội lại chính là cơ sở hình thành giai cấp, nguyên nhân của hiện tượng bóc lột. Cho nên sự xuất hiện của tầng lớp trí thức vừa là bước lùi vừa là bước tiến của nhân loại. Áp bức, bóc lột, phân hóa giàu nghèo là bước lùi so với xã hội nguyên thủy chưa có giai cấp. Tầng lớp trí thức không phải là nguyên nhân của những cái đó, chính nó vừa là nạn nhân vừa là thủ phạm “không tự giác”. Nếu như không thể phủ nhận chế độ chiếm hữu nô lệ là một bước tiến của nhân loại thì càng không thể phủ nhận sự xuất hiện của trí thức là bước tiến cực kỳ quan trọng của xã hội. Ăng-ghen đã nhận xét rất đúng rằng:
“Mãi đến chế độ nô lệ mới có thể có sự phân công lao động trên một quy mô khá rộng lớn giữa nông nghiệp và công nghiệp, và do đó mới có thể có sự hưng thịnh nhất của thế giới cổ đại, tức là nền văn minh Hy Lạp. Không có chế độ nô lệ, thì không có quốc gia Hy Lạp. Không có nghệ thuật và khoa học Hy Lạp. Không có chế độ nô lệ thì không có đế quốc La Mã. Mà không có cơ sở văn minh Hy Lạp và đế quốc La Mã thì cũng không có châu Âu hiện đại được. Chúng ta không bao giờ nên quên rằng tiền đề của sự phát triển kinh tế, chính trị và trí tuệ của chúng ta là một hoàn cảnh trong đó, chế độ nô lệ là hoàn toàn cần thiết và được tất cả mọi người thừa nhận. Theo nghĩa trên đây, chúng ta có quyền nói rằng: không có chế độ nô lệ cổ đại, thì không có chủ nghĩa xã hội hiện đại” (9).
Đúng là “không có chế độ nô lệ cổ đại, thì không có chủ nghĩa xã hội hiện đại”, “không có nghệ thuật và khoa học Hy Lạp”, có nghĩa là không có những người lao động trí óc, thì cũng không có chế độ nô lệ cổ đại. Không có những “người khổng lồ” trí thức ở thời kỳ Phục hưng thì cũng không có thời kỳ Phục hưng... Tầng lớp trí thức đắt giá đến nỗi người ta “quên mất” giai cấp công nhân, người ta quàng cả tương lai của nhân loại lên đôi vai của đội ngũ trí thức, được gọi là “khối lịch sử” (bloc historique). Còn những người theo chủ nghĩa kỹ trị (Technocracy) thì xóa nhòa giai cấp bằng cách biến tầng lớp trí thức trở thành tầng lớp thống trị trong cái gọi là xã hội tương lai. Kêu gọi những ông chủ tư bản hãy “trao quyền” quản lý xã hội lại cho “trí thức”.
Không ai có thể phủ nhận vai trò tích cực của trí thức trong quá trình phát triển lịch sử của nhân loại. Ở Việt Nam vai trò của trí thức càng đặc biệt quan trọng trong quá trình giải phóng dân tộc cũng như xây dựng đất nước. Lịch sử luôn ghi nhớ chiến công lẫy lừng của Lý Thường Kiệt, càng không quên “tuyên ngôn độc lập” Nam quốc sơn hà bất hủ. Nhắc tới Trần Hưng Đạo, không thể không nhắc tới Hịch tướng sĩ. Chiến thắng quân Minh của khởi nghĩa Lam Sơn không thể tách rời khỏi mưu sĩ “trí thức” Nguyễn Trãi. Chiến thắng Đống Đa, phá gần 30 vạn quân Thanh, trong đó công lao của “văn nhân” Ngô Thì Nhậm chủ trương bỏ Thăng Long lui về Tam Điệp đâu phải là nhỏ...
Trong kháng chiến chống thực dân Pháp ai cũng kết sự nghiệp và khí tiết của Phan Đình Phùng, Trương Định, Nguyễn Thông, Nguyễn Đình Chiểu và gần hơn là Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng… Chủ tịch Hồ Chí Minh là nhà cách mạng của giai cấp công nhân, nhưng đồng thời cũng là nhà trí thức yêu nước vĩ đại của dân tộc.
Cùng với giai cấp công nhân và nông dân, trí thức Việt Nam đã góp phần không nhỏ vào cách mạng giải phóng dân tộc và xây dựng xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên, chưa nói đến đội ngũ trí thức, vấn đề liên minh công nhân và nông dân, không phải ngay từ đầu đã được chủ nghĩa Mác đề cập đến.
|
Nói tới kẻ sĩ là nói tới những người có văn hóa và nhân cách ở trình độ cao. Chữ sĩ cũng có bóng dáng đầu tiên của học trò, nhưng mục đích ở cuối chặng đường học hành lại là làm quan. Tóm lại, chữ Sĩ phản ánh một hành trình gồm nhiều chặng, từ lúc đi học đến khi làm quan – nghĩa là khi đạt tới một thành tựu về nhiều mặt - kiến thức, địa vị, tiền tài, quyền lực, ở một đẳng cấp cao trong xã hội.
Xã hội phong kiến được xây dựng theo mô hình gia đình trị được cơi nới rộng. Trong khi đó, xã hội hiện đại bao gồm nhiều ngành nghề và kĩ nghệ, đòi hỏi cá nhân, đặc biệt là trí thức phải có kiến thức toàn thể và tổng phổ. Bởi thế, cái học ngày xưa với cái học ngày nay cũng có nhiều sự khác biệt.
Ngày xưa, triều đình phong kiến mở khoa thi về thơ, phú, văn sách… Kỳ thi là điểm mốc quan trọng đánh dấu bước khởi đầu trên con đường hoạn lộ của kẻ sĩ. Nhà vua là người trực tiếp ra đề, chấm thi và quyết định việc đỗ-trượt của sĩ tử. Việc thi thố chủ yếu diễn ra trong phạm vi kiến thức xã hội học, hiếm hoi mới có Lương Thế Vinh, được vinh danh nhờ có trình độ toán học kiệt xuất.
Trong xã hội phong kiến, mục đích việc học là “tiến vi quan, thoái vi sư” –học trước hết là để làm quan, vinh thân phì gia, yếm thế hơn mới trở về làm thầy dạy người. Trong khi các trí thức Hy-Lạp cổ đại như Socrates, Platon… có thể vui với niềm vui tri thức tại nhà nhưng vẫn có tầm vóc tư tưởng lan tỏa toàn xã hội, thì người trí thức ở Việt Nam hay Trung Quốc có rất ít bản lĩnh tự giác, tự lập đó. Họ phải vòng lên kinh đô làm quan, rồi thoái quan, từ bỏ dục vọng về tiền tài địa vị, rồi mới trở về quê nhà, đóng vai bậc ẩn sĩ. Nói cách khác, trong nền học ngày xưa, không có những trí thức thuần khiết.
Trong sự biến đổi của thời đại, sự học ngày nay cũng có những khác biệt: học là để có kiến thức, để phát triển cá nhân và kiện toàn một xã hội toàn thể. Tuy vậy, chúng ta cũng cần có sự tỉnh táo mãnh liệt để nhận ra (dẫu vậy, ta thường rơi vào sự ngủ mê và sai lầm), không chỉ ở nước ta, mà ở châu Âu và thế giới, những ông vua ngồi “ngai da” như (Chủ tịch, Tổng thống) cũng không khác mấy các ông vua xưa kia ngồi ngai vàng. Giới có học Việt Nam nói riêng, châu Á nói chung vẫn theo đuổi nhiều ngành nghề với mục đích bon chen trong một hành lang hẹp (cái ghế làm quan). Tình trạng lạc hậu lâu dài ở châu Á và Việt Nam chứng tỏ điều này. Sự thật này cho thấy và nhắc lại rằng, dù cái học ngày nay có khác xưa là hiển nhiên, nhưng với những tham vọng và lối mòn tư duy cố hữu, chúng ta vẫn chỉ là những học trò vác chõng đi thi, có chăng là ngày nay, có thêm công cụ máy tính hiện đại.
(Nguyễn Hoàng Đức) |
Mác - Ăng-ghen sau khi tổng kết kinh nghiệm của cách mạng Pháp 1948-1949, mới chỉ ra rằng cách mạng vô sản không thể thành công nếu không có sự tham gia của giai cấp nông dân. Nếu công nhân chỉ tiến hành “đơn ca” thì bài ca đó chỉ trở thành một bài “điếu văn”. Đồng thời khẳng định rằng khi chính quyền đã về tay giai cấp công nhân thì liên minh công nông chính là nguyên tắc cơ bản của chuyên chính vô sản. Khẩu hiệu “liên minh công nông” (allance of the workers and peasants) càng được Lênin phát triển trong cách mạng 1905, đặc biệt là trong cách mạng tháng Mười 11 năm 1917.
Ở đây chỉ nói đến “liên minh công nông” chứ chưa đề cập đến vai trò của “trí thức”. Có lẽ giai cấp công nhân mà Mac đã trao hết sứ mệnh vào từng bước tiến lịch sử, bản thân nó đồng thời là những người tiếp xúc với tri thức khoa học mới nhất. Cho nên tính đảng và tính khoa học thống nhất ở chính bản thân giai cấp công nhân. “Liên minh công nông”, là điều kiện “cần” và “đủ”.
Ở Việt Nam, giai cấp công nhân không hoàn toàn giống như giai cấp công nhân ở các nước đại công nghiệp, tuy nhiên xác định đúng đắn và đầy đủ về vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân là vấn đề cốt tử đầu tiên của cách mạng :
“Giai cấp vô sản Việt Nam tuy còn non trẻ và nhỏ bé, song là một giai cấp rất kiên quyết cách mạng. Nó ra đời trước giai cấp tư sản dân tộc Việt Nam, và vừa lớn lên nó đã sớm tiếp thu ánh sáng cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin, nhanh chóng trở thành một lực lượng chính trị tự giác, thống nhất khắp Bắc, Trung, Nam. Nó lại vừa mới xuất thân từ trong nông dân lao động bị bần cùng hóa, cho nên những mối quan hệ khăng khít của nó với nông dân đã tạo điều kiện thuận lợi để thiết lập khối liên minh công nông vững chắc” (10).
Khác với các nước tư bản phát triển, cách mạng Việt Nam ngay từ đầu đã tiến hành công nông liên minh. Đây là điều kiện vô cùng quan trọng để bảo đảm sự lãnh đạo tuyệt đối của Đảng của giai cấp công nhân :
“Vấn đề liên minh công nông càng có tầm quan trọng đặc biệt đối với một nước như nước ta. Dưới chế độ thuộc địa và nửa phong kiến, giai cấp vô sản nước ta vốn nhỏ bé, song sức mạnh của nó sở dĩ vượt xa số lượng của nó, là vì ngoài nguyên nhân có đường lối cách mạng đúng đắn, còn có nguyên nhân giai cấp vô sản đã tranh thủ được người bạn đồng minh tự nhiên, rất đáng tin cậy, có lực lượng hùng hậu; có tinh thần cách mạng dồi dào, đó là nông dân. Đảng ta vừa mới ra đời đã nắm ngay quyền lãnh đạo cách mạng, bởi vì Đảng ta sớm xây dựng được khối liên minh công nông” (11).
Ở Việt Nam, nói đến liên minh công nông mà không nói đến trí thức thì hình như chưa đủ. Cho nên nói đến liên minh công nông, không thể không nói đến trí thức:
“Đặc biệt là các tầng lớp trí thức, học sinh có tinh thần yêu nước nồng nàn, thiết tha mong muốn bảo vệ truyền thống văn hóa đẹp đẽ của dân tộc, khôi phục những giá trị tinh thần cao quý của con người Việt Nam bị bọn đế quốc phong kiến chà đạp. Họ tỏ ra thức thời và rất nhạy cảm với thời cuộc. Được phong trào rầm rộ của công nông thức tỉnh và cổ vũ, họ bước vào hàng ngũ cách mạng ngày càng đông và đóng một vai trò quan trọng trong phong trào đấu tranh của nhân dân, nhất là ở công nhân Việt Nam vừa non trẻ vừa không phải là công nhân của nền sản xuất đại công nghiệp, cho nên việc tiếp cận với tri thức khoa học không thuận lợi như công nhân các nước công nghiệp phát triển. Không ít công nhân lại từ nông dân mà ra, cho nên thuận lợi trong liên minh công nông nhưng cũng hạn chế vì chịu ảnh hưởng của những “thói hư tật xấu” của nông dân thành thị” (12).
Thực ra vai trò của trí thức trong quá trình cách mạng Việt Nam không phải lúc nào cũng được đánh giá như nhau. Trí thức hầu như xuất thân từ giai cấp nào cũng có, nhưng bản thân nó không là giai cấp nào cả. Trước đây ở Trung Quốc, trí thức được xem là một giai cấp. Từ điển Từ Hải gọi là “giai cấp tri thức” (Intelligentsia), về sau không còn gọi là giai cấp nữa. Do đó, đối với “trí thức không khỏi có lúc có cách nhìn không hợp lý. Chẳng hạn quy họ về thành phần tiểu tư sản, hoặc thậm chí “nhận lầm”, họ là đối tượng của cách mạng. Thực ra, tầng lớp trí thức cũng có nhiều hạn chế, chẳng hạn lập trường bấp bênh, thoát ly thực tế, giáo điều... Đó là chưa kể đến kẻ sĩ thời xưa thuộc hạng “dài lưng tốn vải”, hữu danh vô thực, thường được gọi là “sinh đồ ba quan” mà Phan Huy Chú đã than phiền: “Từ khi kẻ nịnh thần đề nghị đổi phép thi, hạng sinh đồ ba quan đầy cả trong thiên hạ. Người trên do đó lấy tiền mà không ngại, kẻ dưới nộp tiền để đỗ mà không biết thẹn, làm cho trường thi thành ra chỗ buôn bán” (13).
Xét cho cùng thì những “kẻ sĩ” sinh đồ ba quan này đáng thương hơn là đáng trách, bởi vì họ cũng chỉ là những sản phẩm xã hội “chợ chiều” chứ không phải là những nụ hoa của xã hội sang xuân. Giá như tình trạng nói trên chỉ là nhất thời thì Phan Huy Chú làm sao có thể cảm thán được :
“Ôi! Nếu là việc quyền nghi một thời thì còn có thể được, đến lúc thanh bình mà cũng vẫn theo như thế, có phải là điều lệ của thời thịnh đâu!” (14).
Kẻ sĩ trong lịch sử kể cũng “ba chìm bảy nổi”, tuy nhiên xã hội phát triển theo xu hướng kinh tế tri thức là điều tất yếu thì vai trò của trí thức cũng tất yếu ngày càng quan trọng. Dầu gì đi nữa thì lịch sử cũng đã chứng minh rằng một dân tộc không thể tiến lên phía trước nếu dân tộc đó không xem trọng trí thức của dân tộc mình.
Nội hàm của khái niệm “kẻ sĩ” được thay đổi trong lịch sử thì nội hàm của khái niệm “trí thức” chẳng nhẽ lại dừng ở đây ? Liệu ngày nay có nên vẫn cứ lấy tiêu chuẩn lao động trí óc và lao động chân tay để phân chia trí thức và công nông nữa chăng ?
Đương nhiên hiện nay vẫn còn khác biệt giữa lao động trí óc và lao động chân tay, ranh giới giữa công nhân và trí thức vẫn còn. Nhưng ranh giới này càng ngày càng thu hẹp, vừa là công nhân vừa là trí thức, vừa là trí thức vừa là công nhân. Trí thức do công nhân đào tạo ra thì tại sao lại cần phải “công nhân hóa trí thức” nữa ?
Quá trình phát triển của xã hội loài người là quá trình khẳng định sự “tách rời"” giữa lao động trí óc và lao động chân tay và cũng là quá trình phủ nhận điều đó. “Thống nhất” giữa lao động trí óc và lao động chân tay cũng là xu hướng tất yếu. Công nghệ thông tin trong thời đại ngày nay sẽ là đôi đũa thần đang biến cái tưởng chừng như khả năng xa vời đó trở thành hiện thực trước sự ngỡ ngàng của nàng “lọ lem” lịch sử về hình ảnh của cái gọi là “kẻ sĩ” một thời.
Chú thích
(1) Truyện Kiều: “Bây giờ kẻ ngược người xuôi, biết bao giừ lại nối lời nước non”. Nhị độ mai: “Rồi đây kẻ Bắc người Nam, Cành hoa xin tặng để làm của tin”. Từ điển thành ngữ, tục ngữ Việt Nam, Nxb Văn hóa, Hà Nội, l995, tr. 461: “Kẻ cả đàn anh”. (2) Thời ngũ đế (thế kỷ XXVI - XXII Tr.CN), “sĩ” chỉ quan coi hình ngục. Chữ “sĩ” trong Kim văn có hình cái rìu, tức là vũ khí của quan coi ngục. Xem Tìm về cội nguồn chữ Hán, Nxb Thế Giới, Hà Nội, 1997, mục chữ “sĩ”. (3) Ở Trung Quốc thường gọi là “tri thức phần tử” 知 識 份 子, ở Việt Nam lại gọi là “phần tử trí thức” xin lưu ý là “trí” 智chứ không phải là “tri” 知. Từ điển Hán – Pháp (Dictionaire Chinols - Francais) thương vụ Ấn thư quán, Bắc kinh, 1959, dịch “tri” 知 là savoir, connaitre, “trí” 智 là intelligence, sagesse. (4) Từ điển triết học, Nxb Tiến bộ, Mát-xcơ-va, 1986, tr. 365. (5) Phan Huy Chú, Lịch triều hiến chương loại chí, Nxb KHXH, Hà Nội, 1992, t.2, tr. 209, 214. (6) Phan Huy chú, Sđd, tr. 169. (7) Trích theo Triết học đại từ điển, Phùng Khiết chủ biên, Thượng Hải từ thư xuất bản xã, Thượng Hải, 1991, tr. 1013. (8) Các Mác – Phri-drich Ăng-ghen tuyển tập (6 tập). Nxb Sự thật, Hà Nội, 1980, t.l, tr. 291. (9) Ph. Ăngghen, Chống Duy-rinh, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1976, tr. 293. (10) Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Nxb sách giáo khoa Mac-Leenin, Hà Nội, 1979, t.3, tr. 408. (11) Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Sđđ, tr. 410. (12) Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Sđđ, tr. 415. (l3) Phan Huy Chú, Lịch triều hiến chương loại chí, Nxb KHXH, Hà Nội, 1992, t. 2, tr. 170. (14) Sđd, tr. 170. Nguồn:
Văn hóa đạo đức - NXB Tp. HCM Số lượt đọc:
1533
-
Cập nhật lần cuối:
26/05/2009 06:50:06 PM
Trao đổi/Nhận xét | Tổng số:
5 |
Thông cảm với cái khó của tác giả Tác giả muốn chứng minh vai trò quyết định của trí thức trong tiến bộ xã hội, nhưng khó khăn là không được quên "vai trò lãnh đạo" của giai cấp công nhân. Viết thế nào để được công bố là cả vấn đề. Theo tôi điều này khiến người viết lúng túng.
Tôi tin rằng công nhân tri thức sẽ là đội ngũ chủ lực trong sản xuất ở xã hội tương lai, nhưng khi đó vẫn có tầng lớp trí thức và đây vẫn là tầng lớp tinh hoa.
Sự việc đã rõ ràng sau 50 năm theo dõi, chúng ta thấy rằng công nhân lao động chân tay "huỳnh huỵch" không thể là tinh hoa, cũng không thể lãnh đạo nói chung và nhất là lãnh đạo tầng lớp tinh hoa. Thu hoạch và... phản thu hoạch khi đọc bài này Sự xuất hiện lớp người chuyên lao động trí óc khiến loài người ngày càng bỏ xa loài vật. Phương Đông gọi lớp người này là "kẻ sĩ". Tác giả bài này lý lẽ dài dòng về nguồn gốc của danh từ "sĩ", tôi cứ tưởng ông là nhà ngôn ngữ học. Té ra không phải. Dẫu sao, ông cũng cho ta biết, kẻ sĩ là người được đáo tạo công phu (dù là Võ hay Văn) để đảm trách những chức năng xã hội mà lao động chân tay thuần tuý không thể làm nổi.
Tôi đống ý với bạn nguyenvando: Ở xã hội nào (dù là Xưa hay Nay) thì kẻ sĩ (trí thức) cũng là tinh hoa, là bộ óc của một cơ thể.
Bản thân tầng lớp Sĩ không phải là nhóm thống trị (cầm quyền) mặc dù có những cá nhân Kẻ Sĩ có thể nắm quyền (dù tạm thời hay vĩnh viễn; và khi đó ông ta không còn là Kẻ Sĩ nữa). Đó là điều tôi chưa đồng ý với tác giả.
Hành xử của Kẻ Sĩ trong xã hội là do xã hội quy định, không phải do họ muốn mà được. Do vậy, quan sát cách hành xử và thân phận của trí thức (kẻ sĩ), ta có thể suy ra bản chất của xã hội đó. Có những xã hội bản chất phong kiến, nhưng trá hình dân chủ, sẽ lộ bộ mặt thất khi nghiên cứu cách hành xử của kẻ sĩ trong xã hội đó.
Đặc trưng hành xử của Kẻ Sĩ trong xã hội phong kiến (mà tôi thu nhận được) là:
- Phải tôn thờ đạo Khổng, ở mức coi đó là tôn giáo của mình. Cấm nói gì trái với giáo lý, nếu không muốn bị tước các quyền ư đãi. - Chỉ có con đường làm quan, phục vụ trong biên chế của triều đình. - Chỉ cần trung với VUA (hiếu với dân); vì Vua tự nhận là biểu trưng của NƯỚC.
Kẻ sĩ ngày nay sống trong xã hội thật sự dân chủ, hành xử khác hẳn. Nếu không như vậy thì coi lại xã hội đó có thật dân chủ không. Chưa rõ lắm: Kẻ sĩ xưa và nay - Xưa, kẻ sĩ đứng đầu tứ dân (sĩ, nông, công, thương) và là tinh hoa của xã hội. Điều này đã có cả ngàn năm lịch sử.
- Nay, thân phận kẻ sĩ ra sao, tác giả không lý giải cho sáng sủa, chặt chẽ. Số phận đen đủi của "kẻ sĩ" ngày nay, thực ra chỉ xảy ra ở một số nơi, mới trải nửa thế kỷ thôi. Có ý kiến nói, nếu coi xã hội là một cơ thể thì cơ thể này (muốn tồn tại và phát triển) phải thu nhận được thông tin, xử lý các thông tin đó và ra những quyết định phù hợp. Không như vậy, sẽ diệt vong. Tóm lại, cơ thể phải có các giác quan và bộ óc. Trí thức chính là "giác quan" và "bộ óc" của cái cơ thể - xã hội vậy.
Xã hội khôn ngoan là đào tạo đông đảo trí thức (có tư duy độc lập và có sứ mệnh phản biện) và đặt tầng lớp này đúng vị trí và vị thế. Giáo dục nước nhà sẽ đưa VN ra khỏi tình trạng nghèo nàn, lạc hậu... chứ không phải gì khác. Buồn nhất là hiện nay giáo dục nước nhà xuống cấp, lạc hậu, có người (cụ Hoàng Tuỵ) còn nói là khủng hoảng. Sản phẩm của GD chủ yếu là người chỉ biết "gọi thì dạ, bảo thì vâng" (như tôi đây). Tác giả lý lẽ dàn trải, vẫn không nói được chủ kiến của mình: "kẻ sĩ" ngày xưa và ngày nay có số phận và thân phận khác nhau thế nào, và cái gì đưa đến sự khác nhau đó.
Vị nào tiếp thu được ý tưởng chủ đạo của bài viết, xin cho vài ý kiến giúp tôi với. Tư duy tôi lộn xộn, không sao tóm được mạch chính Tôi cố nắm bắt quá trình tư duy của tác giả, nhưng không sao tóm được cái chú lươn này. Nó cứ tuột đi.
Tìm hiểu từ nguyên của "sĩ" cũng là một đề tài về ngôn ngữ học, nhưng gắn vào đây thì rất không hợp, chẳng để làm gì, vì nay khái niệm về "sĩ" đã khác xưa rất nhiều.
Thời nguyên thuỷ (mông muội) con người lao động chân tay cực nhọc như con vật, cho đến khi xuất hiện tầng lớp "sĩ". Xã hội nào cũng coi "sĩ" là tinh hoa. Tuy vậy, một số xã hội đã kỳ thị "sĩ" và rất sợ, rất cảnh giác với "sĩ". Ví dụ, thời bạo chúa Tần Thuỷ Hoàng. May mắn, đó chỉ là thời kỳ ngắn ngủi và đen tối của một bộ phận nhân loại. Nếu kéo dài, ắt con người sẽ quay lại cuộc sông con vật. Tác giả bài này không cần thương hại cho thân phận "sĩ" trong vài ba xã hội bất thường nào đó. "Sĩ" ở đó sẽ có cách thoát khỏi thân phận bạc bẽo của mình, sẽ chiếm lại địa vị tinh hoa. Và cứu toàn xã hội. Mác nhận định rằng cách mạng vô sản chỉ thành công ở những nước công nghiệp phát triển cao nhất và phải cùng nổ ra ở nhiều nước. Ông chưa nói gì về "chủ nghĩa xã hội". Mà đó là sự sáng tạo sau này của lãnh tụ thiên tài Lênin.
Mác dự kiến Đức sẽ là nước khơi mào cách mạng vô sản. Nếu công nhận nhận định này là chính xác thì nay có thể hy vọng vào Mỹ. Ở nước Mỹ hiện nay, có 1,8 triệu nông dân làm ra số sản phẩm đủ nuôi gần 300 triệu dân Mỹ. Mặt khác, nông dân Mỹ thực chất là công nhân nông nghiệp. Nếu cách mạng cộng sản xảy ra ở Mỹ thì không có chuyện "liên minh công nông". Dẫu vậy, cách mạng cộng sản cũng chưa thể thành công ở Mỹ, vì xã hội này mới chỉ đang hình thành giai cấp "công nhân trí thức". Nó sẽ lớn lên đủ tầm để quyết định vận mệnh xã hội. Đó là thời tương lai. Trên thực tế, trái với ý kiến của Mác, cách mạng thành công ở những nước nông nghiệp lạc hậu (Nga, TQ, VN, Đông Âu...). Tại đó, Nông dân chiếm đại đa số. Bắt buộc phải có liên minh công-nông, nhiệm vị trước mắt là giành độc lập. Và sự phát triển công nghiệp ở các nước này quá thấp để xây dựng xã hội cộng sản. Vậy phải sáng tạo ra giai đoạn trung gian. Đó là chủ nghĩa xã hội (Mác không nói tới nó), mà đó là công của Lênin.
Stalin là người có công đề xuất "chủ nghĩa Mác-Lênin", chứ bản thân Mác hay Lenin không nghĩ rằng sau này có người ghép học thuyết của hai ông với nhau.
Vấn đề là tại sao dưới chế độ XHCN thì trí thức không còn là tinh hoa, bị gán cùng giai cấp với ông cắt tóc và chị hàng rong. Tôi không dám bàn.
Trong vào bài viết của tác giả thì rối rắm quá. Tôi đành nhận mình suy nghĩ lộn xộn, chớ sao dám bảo tư duy của tác giả có vấn đề? Khâm phục Tác giả bài này thoạt đầu đưa ra cái gốc của "sĩ" cứ tưởng ông sẽ bàn về tính cách của kẻ sĩ từ chế độ phong kiến, thuộc địa nửa phong kiến, phong kiến trá hình, rồi dân chủ tư sản...
Rốt cuộc, tác giả đã lái chúng ta sang vấn đề khác.
Khâm phục! Khâm phục!!!
Ý kiến của bạn về bài viết:Triệu phú phải nhờ gái điếm03/09/2010 05:31' PM Nhiều năm trước đây, trong một lần diễn thuyết, ngài Tôn Trung Sơn đã kể lại một câu chuyện: ở đảo Ja Va trong quần đảo Nam Dương, có một nhà triệu phú Hoa Kiều, của cải có hàng triệu đôla... Di sản Hồ Chí Minh: Mười hai chữ vàng01/09/2010 12:10' PM “Nước độc lập mà dân chưa tự do thì độc lập cũng không có ý nghĩa” - Hồ Chí Minh. Hai tuần sau khi giành chính quyền, Chính phủ lâm thời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã có bản Tuyên ngôn Độc lập với thế giới, mà tác giả chính là Hồ Chí Minh... Giáo dục Khai Phóng30/08/2010 10:57' AM Lò dò vô trang web “cựu sinh viên nổi bật” của trường đại học Chicago, Mỹ, thấy một danh sách dài có hình ảnh và thành tích của những người xuất thân từ trường này đã trở thành giám đốc ngân hàng, chủ tịch tập đoàn, bộ trưởng quốc phòng, khoa học gia và kinh tế gia đoạt giải Nobel, sử gia và chính khách làm nên lịch sử, nhà văn, đạo diễn nổi tiếng… Nhìn chung là những kẻ thành công trong xã hội. Nhà trường tự hào trưng hình ảnh họ như những tấm huy chương. Và căn cứ vào những kẻ được biểu dương có thể biết kỳ vọng hay mục tiêu giáo dục của trường. Chẳng phải nhà trường nào cũng nhằm đào tạo những kẻ thành công? Niềm tự hào26/08/2010 01:31' PM Tôi cứ suy nghĩ mãi về lời một người bạn nước ngoài khi anh ta nói với tôi rằng : Ai cũng biết sau Thế chiến thứ hai, Nước Đức ở Phương Tây và nước Nhật ở Phương Đông chỉ còn có hai thứ: đó là những đống đổ nát tro tàn, và còn lại những con người với nền văn hóa vĩ đại của họ... Chúc mừng đại tướng vượt trăm xuân!25/08/2010 07:22' AM Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp bước sang tuổi 100 tính theo Dương lịch. “Đây là một hiện tượng chưa từng có từ thế giới cổ đại đến hiện đại đối với một danh nhân lỗi lạc” như đồng chí Đồng sĩ Nguyên, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị – Phó thủ tướng Chính phủ viết trong lời tựa cuốn sách nhan đề Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp, người anh cả của Quân đội nhândân Việt Nam do NXB Quân đội nhân dân vừa cho ra mắt ban đọc... Văn minh Chính trị23/08/2010 02:57' PM Như tôi từng viết : một cá nhân, cộng đồng, xã hội có thể có văn hóa cùng bề dày lịch sử của nó, nhưng không có nghĩa sẽ dẫn đến được sự văn minh. Tôi cũng đã viết rằng bản thân Chính trị không tự giác văn minh mà trình độ phát triển xã hội buộc nó phải văn minh lên… Về vị Đại tướng tròn 100 tuổi23/08/2010 06:56' AM Mùa Thu này, hoà với dịp kỷ niệm 65 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh , lại trước thềm Đại lễ 1000 năm Thăng Long-Hà Nội, người Việt Nam lại được chia sẻ niềm vui mừng chúc thọ vị Đại tướng của nhân dân Võ Nguyên Giáp tròn 100 tuổi. Trong bề bộn những sách báo có liên quan, thấy có hai tài liệu đáng được chia sẻ với bạn đọc... Cách mạng và sự hội tụ nhân tài21/08/2010 07:12' PM Dịp hội tụ những người con ưu tú đã “có nhiều cống hiến trong lĩnh vực kinh tế, văn hoá, khoa học, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp kháng chiến giải phóng dân tộc, bảo vệ và xây dựng Tổ quốc” (Lời Đại tướng Võ nguyên Giáp) đã nhắc tôi nhớ lại một bài học về sự hội tụ nhân tài, từ một sự trùng hợp kỳ lạ 65 năm trước, mà anh Phan Tân Hội, con trai luật sư Phan Anh - người đã cùng GS. Tạ Quang Bửu thành lập TTNTTH nói với tôi sau cuộc gặp gỡ... Bài khác: Protagoras và khai minh Hy Lạp01/01/1900 12:00' AM Protagoras (490 – 420 trước Công nguyên) – sinh trước Socrates 20 năm – ký hợp đồng… thương mại hoá giáo dục với cậu học trò Euathlus: trả trước một nửa học phí, nửa còn lại sau khi cậu cãi thành công trước toà. Euathlus rút cục thất bại, nên không chịu… thanh lý hợp đồng. Nhà chính trị và nhà văn hóa Phạm Quỳnh (1892- 1945)01/01/1900 12:00' AM Hơn 60 năm nay, ông là một câu hỏi lớn, một mối hồ nghi trong dư luận và nhận thức của bao nhiêu người ở bên này bên kia chiến tuyến. Giằng xé đó làm cho vấn đề Phạm Quỳnh càng trở nên rắc rối, phức tạp thêm. Cách mạng khó giải thích, thanh minh, phản cách mạng muốn khai thác, lợi dụng. Nỗi đau của gia đình ngày càng lớn vì sự oan khuất của ông. Karl Marx dưới con mắt của một trí thức Đông Âu20/05/2009 03:35' PM Tôi e rằng tất cả những gì có thể nói về Karl Marx đã được viết cả rồi. Hàng ngàn bài báo, bài nghiên cứu và hàng trăm cuốn sách đã được xuất bản trong đó có thể thấy đủ mọi thứ từ ca tụng cuồng nhiệt, phân tích khách quan, đến căm thù giận dữ. Cái tôi có thể thêm vào kho tài liệu mênh mông này chỉ là quan điểm cá nhân mà từ đó tôi xem xét công trình của Marx... Chủ nghĩa nhân văn Việt Nam - Hồ Chí Minh, một tầm nhìn triết học19/05/2009 09:11' AM Dân tộc Việt Nam ta trong quá trình đấu tranh và xây dựng đã hình thành nên chủ nghĩa nhân văn Việt Nam Và ngày nay đã phát triển lên đỉnh cao mới mà ở đó chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh đã kết tinh cả chủ nghĩa nhân văn Việt Nam, chủ nghĩa nhân văn Đông Tây và nhân lại xưa nay- có tác dụng định hướng lớn và phát huy cao độ nội lực trong phát triển, hiện đại hóa và hội nhập... Từ một bài thơ suy nghĩ về sự khác biệt và thống nhất15/05/2009 01:36' PM Từ bài thơ “Khúc ca Đông- Tây”của R.Kipling, tác giả trình bày suy nghĩ của mình về sự thống nhất và khác biệt giữa Đông và Tây, rộng ra là sự thống nhất trong đa dạng của văn hoá. Với giả thiết rằng sự khác biệt Đông- Tây nằm ẩn sâu trong truyền thống văn hoá, văn minh Đông - Tây, tác giả đi tìm nguyên nhân của sự khác biệt đó. Cuối cùng, tác giả khẳng định rằng, thống nhất trong đa dạng chính là nguyên tắc để đi đến một sự phát triển hoà bình, ổn định và bền vững cho nhân loại. Cách đây một thế kỷ, những người khổng lồ12/05/2009 03:12' PM Quả thực, hồi đầu thế kỷ XX, chúng ta từng có được một thế hệ vàng. Quả thật đấy là thời kỳ của những người khổng lồ. Để có được ngày hôm nay của đất nước, không phải chỉ có cách mạng và chiến tranh. Hoặc nói cho đúng hơn, chính những con người như vậy, vào một thời điểm chuyển động quan trọng của lịch sử, đã góp phần không hề nhỏ chuẩn bị tinh thần, trí tuệ, cả chí khí nữa cho dân tộc để có được cách mạng thành công và chiến tranh giải phóng thắng lợi. Trí thức nửa mùa11/05/2009 09:53' AM Ở nước Nga, trong thế kỷ XX đã hình thành một tầng lớp xã hội, được coi là trí thức, nhưng trên thực tế lại không phải là như thế. Chính các đại diện của tầng lớp này, chứ không phải giới trí thức, đã đóng vai trò chủ yếu trong những cuộc cải cách đầy tai họa hồi những năm 80 và những năm 90 của thế kỷ vừa qua. Đấy là tầng lớp trí thức nửa mùa. Khoa học, Lý trí và Nhân tình thế thái10/05/2009 04:45' PM Tự nhiên được chi phối bởi các qui luật phổ biến mà trí tuệ loài ngưới có thể lĩnh hội được. Niềm tin vào tính hợp lý của Thế giới, đã vượt cả ra ngoài lĩnh vực Vật lý và xâm nhập vào mọi địa hạt hoạt động của con người trong suốt nhiều Thế kỷ, bởi tin rằng, đó chính là hiện thực, là vĩnh cửu... |