 | Thông tin liên quan: Ngài nghị sĩ28/06/2010 10:05' AM "Ngài nghị sĩ" của Phạm Chí Dũng là câu chuyện có phần giả tưởng xảy ra ở một nơi nào đó, cách VN không xa. Bi kịch của tham vọng nơi chính trường, màn đen trong não trạng của giới chính khách chi phối cử tri, những cuộc thanh trừ chính trị... đã làm cuốn tiểu thuyết này gây tò mò ngay từ đầu cho người đọc. Tác giả muốn đưa ra vấn đề cần phải hướng đến một xã hội lý tưởng như thế nào, thế nào là văn minh chính trị... Hãy tự xét mình01/02/2010 12:30' PM Năm 1943, nhà giáo dục Hoàng Đạo Thúy viết cuốn sách “ Trai nước Nam làm gì?” để kêu gọi thanh thiếu niên Việt Nam rèn luyện chở ngày giúp nước... Cái kiêu của nhà Nho23/06/2009 05:11' PM Nho giáo, với tư cách là một học thuyết đạo đức thường nhấn mạnh sự đòi hỏi về đức khiêm cung ở người quân tử. "Mãn chiêu tổn, khiêm thụ ích" - cái đầy gọi cái vơi, võng xuống thì được làm cho đầy trở lại - có thể nói, đây chính là một "lí do triết học" dẫn đến đòi hỏi đạo đức nói trên trong Nho giáo. Kỷ vật cho muôn đời16/05/2009 10:36' AM Là một lãnh tụ vĩ đại của dân tộc, song Bác Hồ rất giản dị trong cuộc sống, bộ sưu tập “Đồ dùng của Chủ tịch Hồ Chí Minh” là một trong những sưu tập hiện vật quý. Đó là những hiện vật liên quan trực tiếp đến cuộc sống hàng ngày của Bác ở trong nước cũng như nước ngoài. Hãy tự xét mình18/01/2004 09:40' AM Mấy năm gần đây người ta hay nhắc đến cuốn sách "Người Trung Quốc xấu xí" của Bá Dương (bản dịch Nguyễn Hồi Thủ), nói việc người láng giềng phương Bắc tự soi gương để nhận diện "cái xấu xí" của mình, "tự sỉ" mong sửa chữa để vươn lên. Bá Dương cũng nêu tấm gương của những người ở Mỹ và Nhật đi trước ông, viết sách tự phê phán "cái xấu xí" của mình. |
Hoàng Đạo Thúy là nhà Hà Nội học hàng đầu của Việt Nam. Ông có nhiều tác phẩm thuộc nhiều lĩnh vực giáo dục, xã hội, chính trị, quân sự, lịch sử, văn hóa... đặc biệt là những tác phẩm về lĩnh vực nghiên cứu lịch sử văn hóa Hà Nội. Năm 1943, Hoàng Đạo Thúy viết cuốn sách "Trai nước Nam làm gì?" để kêu gọi thanh thiếu niên rèn luyện trí tuệ, đạo đức, ý chí và thể lực, chờ ngày giúp nước. Cuốn sách được viết cách đây hơn 60 năm, nhưng tính thời sự và giá trị giáo dục của tác phẩm vẫn còn có ý nghĩa sâu sắc trong cuộc sống ngày hôm nay. Chungta.com xin trân trọng giới thiệu với bạn đọc cuốn "Trai nước Nam làm gì?" của nhà Hà Nội học Hoàng Đạo Thúy.
Tôi biết rằng tôi có thể nói thẳng với anh.
Hãy nói lại chuyện cũ. Chuyện mấy năm trước đây thôi.
Lúc bấy giờ trông xa thì thấy gì? Bốn bể sóng cồn. Mà một khi làn nước phẳng lặng đã nổi giận, sức mạnh không biết đến bực nào. Văn-minh vật-chất chỉ mạnh nuôi cho lòng dục, mà lòng dục đã tha-hồ tung-hoành thì dẹp được nó không phải là việc dễ.
Thế-giới đã ốm rồi. Ốm tinh-thần, mà các sác lại nuôi rặt đồ cao-lương thì bệnh khó gỡ đấy. Đã thế mà một trăm ông thày thuốc, ông nào cũng dao cầu cho sắc, viên thuốc cho to, ông nào cũng bốc những bài công phạt, ông nào cũng bỏ đạo vương mà dùng đạo bá cả, không để cho người ta tỉnh lại tinh thần, không để cho người ta hoàn hồn, mỗi ông cứ cậy thuốc mình hay, hay hơn cả tạo vật, chữa không vì bệnh, chữa chỉ để sướng tay, không uống có lẽ ông đè xuống mà đổ thuốc vào họng.
Phen này nếu người ốm không chịu gắng gượng, tay chân không chống đỡ, để cho bọn lang băm nó làm liều thì nguy - phải nguy mất: Nghĩ kỹ xem bệnh có những chứng gì?
Một phần cậy cái sức mới mẻ của mình, tha hồ mà ước vọng, tha hồ mà bầy vẽ, mong sao các xác mình nó được thoả đến cùng cực, mặt kệ tịnh thần, mặc kệ tâm hồn. Thế rồi bầy vẽ mãi, càng bầy vẽ, cái sác càng ước vọng xa, vì lòng dục đã không bờ, đâm làm rồi đành theo, theo đến chết có lẽ cũng không ngại gì nữa. Tiền đã thành sức mạnh, tiền đã nên cái lẽ vì no mà sống, thì ắt phải làm hết sức, bán hết sức cho ra tiền. Làm đã đành, nhưng mua cũng phải có khách chứ. Phải có khách mua mới được. Thiếu khách, đã vừa làm vừa mua mà dùng cũng không hết; sống để làm ra hàng rồi lại để dùng hàng, cũng chỉ tạm yên thôi. Dùng không hết, nó ùn lại, nó ứ tắc; làm sao cho máy vẫn chạy, tiền vẫn vào, vì thế lâm vào con đường luẩn quẩn, cài vòng khổ vây bao nhiêu mạng người ở trong. Vì đó mà gạo nhiều quá phải đổ bớt xuống bể, hàng nhiều quá phải thiêu bớt đi. Chua chát ở cái chỗ: bên này thiếu, đổ đi, bên kia vẫn có kẻ đói, chết, kẻ túng thiếu.
Bọn làm ra hàng nhất định phải bán để ra khỏi vòng khổ, tất nhất định phải bắt người ta trả cho được.
Thành ra nước sông đỏ không phải chỉ đỏ ở đất phù xa, hạt mầm dịch tả người ta còn nuôi nó để dùng nữa.
Có một phần, cái óc sáng sủa qua một phen choáng váng, thành ra ngây ngất. Quên sức sống của mình nó vẫn thâm trầm, thấy người nhẩy nhót cũng nhẩy nhót cũng ốm nốt.
Quay cuồng cả, vì danh làm mê, vì lợi làm mê, vì của ngon vật lạ làm mê. Bệnh điên rồi. Điên thì biết còn giữ làm sao được.
Gốc bệnh chỉ là ở chỗ không giữ được bản tính người thôi.
Cái đức sáng đã mờ đi, lại không cố làm cho cái sáng cái đức sáng. Bệnh ở tâm ở óc, lại bổ ruột, bổ dạ dày, bằng ăn, bằng chơi thì thế hư mất rồi. Ấy trông ngoài thì thế. .......
Một số nhỏ, tự phụ mình là thượng lưu, ăn dẫu không tất được no, nhưng mặc tất phải sang mới thích. Bọn này gần những người điên nên cũng điên. Những trò tầm thường ở nhà chớp bóng đã cho là hay, có ngờ đâu nó chỉ đủ nhồi vào mấy lỗ hổng trong óc. Thừa thời giờ, không muốn khổ về suy nghĩ, nhọc về học tập, thì quay, thì nhẩy, vì học người thì môn học này thật là tốn công ít nhất. Việc làm đã chỉ cho là một cách kiếm ăn thì kiếm ăn được rồi mà còn được chơi nữa, còn mong ước ao cao xa làm gì. Đã không ai để bận việc gì đến mình, có nhà không phải giữ, có con không phải dạy, còn mất không phải để tâm đến, còn vạ gì kiếm cho ra việc, làm cho được việc, nghĩ đến người ở ngoài mình, lo đến việc ở ngoài mình. Đã lầm tưởng múa may là hoạt động, kêu là là truyền bá, tổ chức là văn hoá, mơ màng là tư tưởng, thì rượu chưa say đã có thuốc phiện. Muốn an ủi cái sức vóc thôi, thì đã có trường đen đỏ, Thế cũng xong, vì chết cũng là một cái xong.
Ngoài như thế, trong như thế, khỏi sao làm người ta phải lo âu.
Trông thấy quanh mình như thế... Vì cho rằng, sức níu lại không còn được, nên không khởi công níu lại. Ai cũng bảo thôi, muộn lắm rồi.
Cơn dông đến. Nhiều tay tưởng rằng mạnh chèo chống, không chèo chống. Nhiều giá trị tưởng nhất định mà không nhất định. Bao nhiêu việc thay đổi. Bao nhiêu nỗi thống khổ mà đã biết bao giờ thôi cho.
Bên phương Tây kia, chứ chẳng những mấy người biết nghĩ ở bên ta, nhiều người tự hỏi rằng: đã lạc đường rồi ư? Đã điên thật à? Luân lý có lẽ là một giá trị, đạo đức có lẽ là một nhẽ sống. Vật chất làm nguy thật rồi.
Nước Pháp nguy. Thống chế Pétin lập lại nền nước, đem những từng trải, những suy xét của ngoài tám mươi tuổi mà làm việc, cũng nhận rằng: phải trả lại giá trị cho những giá trị cũ, giá trị lao công, gia đình nghiêm phép, tổ quốc thiêng liêng; không nói tiền, chỉ nói đức; đừng vội chơi, hãy biết khổ.
Mà Thống chế Pétain không phải là một mình, bao nhiêu người cũng thấy như thế.
***
Thanh niên nước Nam, anh ạ, hãy thôi đừng chế bác những người mà anh vẫn cười rằng: "ưu thời mẫn thế", những người mà anh cho là kém vì chỗ không biết trẻ, biết vui.
Anh nghĩ xem, anh là một phần tử của nhà anh, của nước anh, một hy vọng của đời; nếu mặc đẹp, ăn ngon, uống rượu say, xem trò lạ, nghỉ mát cho thoả, đánh bạc cho giết thì giờ, thì anh quẳng cái tập này đi, nếu anh cho thế là xong, ừ thì là xong.
Nhưng nếu anh có gan óc, có sức vóc, thì anh chưa cho thế là xong được. Anh phải tìm lấy một con đường mà đi.
Anh phải lập trí, từ hôm nay, từ giờ này mới được.
Anh thường phàn nàm về cái của hương hoả của ông cha để lại nó nhẹ nhàng quá. Ông cha ta chẳng để lại được cho ta một cái gì mà mắt thấy được, thật đấy. Nhưng đem nhau tự đâu mà đến cõi đất này, chống phía Bắc, mở phía Nam, mỗi lần thắng đủ làm bất tử cho cả một bộ sử, bao nhiêu nước mắt, bao nhiêu máu vẩy ra rồi, ông cha ta đã để cho ta một cái hương hoả vô cùng quý, đó là chí khí.
Ai dạy được ai cho có chí, nhưng biết rằng trong tâm hồn anh có sẵn mầm mống, nên gọi anh đó.
Anh lập chí ngay để mà làm việc cho Tổ quốc
Anh đợi thì rồi lại như những người mấy năm trước đã đợi, rồi thấy chậm mất rồi, lần nào cũng chậm mất rồi vì không lần nào quyết tâm làm cả. Cái cảnh vuốt bụng thở dài, nhìn trời mà than vãn phỏng anh có chịu được không?
Nước nhà mong ở anh đấy, đời đợi anh đấy.
Khi nói "anh" là nghĩ cả "chị" nữa.
Trai anh hùng gái cũng nữ anh hùng.
Gọi là anh thư thì vừa không đúng, vừa tục. Khi kề vai vào công việc thì khăn yếm kém gì mày râu, mà trong nhà siêu đỏ thì chống đỡ, còn hỏi làm gì ai là bồng tang, ai là son phấn. Chém tướng phất cờ sao không phải công việc Bà Trưng, Bà Triệu, cương thường nặng gánh ai đã bằng Thị Thuấn, Thị Kim.
Vì thế chị không nên khư khư nghĩ hai chữ: "giải phóng" của các bà đòi "quyền". Ai có quyền, ai lung lạc, mà trong một cặp bạn đường trường chia ngay ra làm hai phái đánh nhau. Hãy chung vai mà cùng gánh lấy trách nhiệm, mà khi đọc mấy trang giấy này nhớ cho rằng, anh đó mà cả chị đó.
Chí ta lập, cái chí ấy phải bền, phải mạnh.
Thày Khổng nói rằng: "Giữa đám ba quan có thể cướp được chủ suý, mà cái chí kẻ thất phu thì không cướp được". Câu nói mạnh mẽ thay, chí người ta có thể vững được đến thế.
Đẻ ra mà không có chí khí thì chết thôi. Nhưng đã nói rằng người nước Nam này ai cũng đã được ông cha để lại cho một cái khí niều hay ít rồi. Cái khí mà Văn Thiên Tường gọi là chính khí, thì là sông núi, trên thì là nhật tinh nó đầy rẫy trời đất.
Nhan cái khí đã có thì không sợ gì nhụt, không sợ gì hèn. Thêm cái chí vào thì không sợ gì yếu gan, không sợ gì bỏ giở việc nữa. Hai thứ cùng luyện, luyện thành chí khí.
Chí khí là một cái sức mạnh rất lớn của tâm và của hồn. Người có chí khí lâm vào việc vẫn tỉnh táo, bạo, nhiệt thành, vẫn đủ sức chống chọi, vẫn đủ can đảm nhận công việc, cả quyết biết xấu hổ, không chịu nhục, có khí khái, giữ được phẩm cách con người. Người có chí theo được mãi một mục đích, găp gian nan mà lòng không nản, trên đường xa gối không chồn, vững dạ bền gan, cái chết không doạ nổi.
Một người có chí khí là ông Thái Tổ nhà Lê. Làm một người cầy ruộng mà không chịu ép mình, nười năm gian nan mà công việc làm đến được. Gương sáng của ta đó.
Có tài năng mà không có chí khí thì tài năng mà làm gì. Không tài năng mà có chí khí thì rồi cũng có tài năng, cũng làm được. Bao nhiêu người thành công, xét đến gốc là nhờ chí khí cả. "Trời mới lạnh cỏ cây thường đã rụng lá. Tuyết xuống dầy mà cây tùng cây bách vẫn xanh tươi. Tùng bách hơn các loài cây là thế". Đó là lời thầy Khổng.
Chí khí ta quyết là đã có mầm rồi, Hãy bồi bổ lấy nó. Trong đám súng kêu đạn nổ, có cái thủ đoạn anh hùng trong chốc lát, việc vẫn có thể làm được. Nhưng chỗ vắng ngồi một mình, giữ được mình, sai được mình, nếu không có thì có khi phải hàng. Phải gắng gỏi ở lúc ngồi một mình ấy. Những việc nhỏ, cho là nhỏ mà không làm, những cái thắng nhỏ cho là nhỏ mà không thắng, thì làm việc lớn, thắng cuộc lớn sao được. Bởi thế mà mỗi phút, mỗi việc anh phải thắng cả mới được. Trời rét, dậy sớm đi tập thể dục, anh cũng cần gan mới làm nổi. Không đợi người đem nước đến, anh đi múc lấy nước lạnh, cũng phải chí mới làm được. Anh phải bắt, phải bó buộc, phải nghiêm, phải nghiệt với mình anh. Một ngày trăm trận, ở chỗ không một người nào nhìn thấy anh, trận nào anh cũng thắng, ngày nay, ngày mai, ngày nào cũng thế, thế mãi, ấy cái cách luyện chí là thế.
Thấy kém, thấy yếu biết là xấu; biết hổ thẹn, càng cố gắng, ấy cái cách nuôi khí ở cả đó. Thanh gươm phải trăm lần rèn mới là quý. Nếu không mài, không rũa, không thiết tha, thì luyện sao được một chí khí anh hùng, không có chí khí anh hùng thì mong sao làm mà chắc được.
Anh giống Lê Phán Quan.
Phán Quan tình nguyện theo Lê Thái Tổ, trong mười năm, bầy mưu mô trong trướng, xông tên đạn trên chiến trường, sinh tử bao phen, đến lúc công thành, một khăn gói lên vai, nhẹ bước ra đi, coi công danh như rơm rác; đi rồi không còn để đến tên tuổi lại nữa.
Phán Quan là chức việc của ông. Lê là họ vua ban cho. Chứ có ai biết ông ấy là người nào đâu. Ấy thanh cao thì anh giống Lê Phán Quan.
Anh giống Triệu Vua Bà
Làm thân gái trong khi nước có nạn lớn, không chịu ẩn mình sau vuông yếm, chiếc khăn, Vua Bà chiêu mộ hào kiệt, trong ngàn tây, dựng cờ vàng, ngồi đầu tượng, trăm phen ác chiến. Bây giờ theo đường thiên lý, anh ruổi xe, còn mười dậm nữa đến Thanh, bên tay phải, trên đỉnh Tượng sơn, một cái nấm nhỏ, làm cho anh máu bồng bột trong tim. Anh giống ai? Giống Triệu Vua Bà chắc hẳn.
Anh giống Lê Thái Tổ.
Dân áo vải, khẩn ruộng hoang, cũng không chịu an thân làm ông trưởng giả. Lê Thái Tổ huý Lợi, coi việc thiên hạ là việc mình. Giầu sang mồi không đủ dử ông, gian nan khổ không nạt được ông; mười năm nằm gai nếm mật, lương cạn ở Chí Linh, quân tan ở Côi huyện, chui trong bụi rậm mà còn có gan chịu lưỡi giáo của quân thù, mất cả vợ con mà vẫn không nhụt chí, chẳng đội giời cùng giặc cướp. Cái chí ấy mới thắng được trận ở Mã Yên, cái chí ấy mới đuổi được quân Ngô ra ngoài cõi. Cái chí bà Triệu, cái chí vua Lê, phải không vẫn là chí của anh. Anh giống Thái Tổ nhà Lê.
Anh giống vua tôi nhà Trần.
Mười lăm tuổi lấy việc không được đầu quân làm xấu hổ, anh giống Trần Quốc Toản; dưới lưỡi đao hành hình, không thèm làm Bắc Vương, anh giống Bình trọng Trần tướng quân. Chứng chọi với đá không ngại ngùng, đem một tốp quân cha con anh em chống với năm mười vạn Mông cổ đã ruổi rong từ Á sang Âu, chữ "Sát Thát" thích vào tay, lời thề trên sông Hoá; anh đọc sử đến đấy phải ca, phải khóc, phải lấy làm vẻ vang, phải có được hy vọng ở cái khí của dân ta. Bẩy trăm năm là bây giờ, anh vẫn thấy rằng anh là dòng dõi, anh giống Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn.
Võ Tánh, Lê Trạc, Roãn Chi...
Võ Tánh tự đốt ở Bình Định, Lê Trạch tự chôn ở Cao Bằng. Roãn Chi tử trận với phủ Phú Bình. Bấy nhiêu người thề cũng thành cùng sống thác. Một vừng chí khí, gây từ sông núi này. Anh thấy anh cũng có thể có gan ấy, cũng nhận được trách nhiệm ấy.
Anh giống ai? Giống ông Văn Trinh.
Lấy một thày đồ kiết mà nộp sớ xin chém bẩy nịnh thần, ông Chu Văn An sợ gì một cái chết. Trong thời suy đồi, làm Thái Sơn cho bọn học giả theo, làm mốc đá cho sĩ phu bước đến, ông nhận lấy chức trách đó của người quân tử, để vững cho lễ nghĩa. Phải không, ông Chu Văn An vẫn là thày anh.
Anh giống Phạm Tử Nghi.
Đi qua bến đò Niệm Hải Phòng, anh cũng thấy nức lòng, anh cũng muốn tập luyện, anh cũng muốn có cái thần dũng của trang tráng sỹ đời Lê Mạc.
Từ ông Lê Như Hộc đi sứ nước người mà lặn lội để đem nghề in về, cho đến ông Nguyễn Tri Phương bôn ba ở Lữ Tống mà dò xét công việc ngoài, ông Nguyễn Công Chứ mang hết tài thao lược vào một việc doanh điền. Tổ tiên ta "lập công" là thế, Bản in làng Liễu Tràng, bền giầu văn hoá ta, ruộng huyện Tiền Hải, đầy kho dân ta, đó là những việc anh thế nào cũng muốn làm đấy chứ?
Anh làm như ai? Làm như Phạm Ngũ Lão.
Nhà nghèo mà không ngại, mồ côi mà không lo, đường rắn rết, không quản sang Lào, có tài tướng suý mà làm kẻ chăn voi chăn ngựa; ngồi đan sọt bên đường cái quan, văn không được bằng người đỗ tiến sĩ lấy làm xấu hổ, võ muốn hơn bằng bối thì tập nhẩy tập đánh, không sợ ai chê cười.
Người đáng làm kiểu mẫu cho ta là Phạm tướng quân đó.
Chịu được nghèo, chịu được nhọc, chịu tập thân thể, thích văn chương, biết xấu hổ mà lại nhũn nhặn, làm việc lớn mà vẫn thương người. Gương của thanh niên ta còn tìm đâu xa nữa.
Một cái trên này nhắc đến luôn là "biết xấu hổ". Thày Khổng bảo rằng: "Biết xấu hổ là gần được bậc dũng".
Phải nhũn nhặn mới biết được chỗ chưa bằng người, mới biết thế nào là nhục. Biết là nhục mới có đủ sức mạnh để làm. Xấu hổ là cái sức nóng để nung nấu "chí".
……
Nguồn:
Nhà xuất bản Thời đại - Hà Nội, 1943 Số lượt đọc:
7452
-
Cập nhật lần cuối:
01/02/2010 10:48:26 AM
Ý kiến của bạn về bài viết:Kinh tế học tổ chức25/08/2010 06:56' AM Quyển sách mỏng trình bày một bản sơ kết phân tích kinh tế về các tổ chức, một chuyên ngành phát triển mạnh trong giai đoạn gần đây. Phụ lục của sách là bài phỏng vấn Williamson, tác giả được giải Nobel Kinh tế năm 2009, làm rõ vai trò của thị trường và tổ chức theo cách nhìn của trường phái tân thể chế... "Tôi muốn tiếp tục sống, ngay cả khi đã chết"20/08/2010 01:59' PM Sống ở thời đại mà "mọi lý tưởng đều bị chà nát và hủy hoại, khi con người phơi ra những mặt xấu xa nhất của mình, và người ra không biết có nên tin vào Thượng đế, vào sự thật và lẽ phải nữa hay không", nhưng Anne Frank lại cảm thấy "Bất kể mọi sự, mình vẫn tin là bản chất con người vẫn tốt đẹp"... Việt Nam khai quốc: Sĩ Nhiếp (chương 2, phần 3)15/08/2010 08:33' AM Sĩ Nhiếp được giữ một địa vị danh dự trong hàng ngũ anh hùng của dân tộc Việt Nam. Sự thành công của ông không được thấy nhiều qua những điều ông làm, mà qua những điều ông không làm. Ông không đi ngược lại nhân sinh quan của người bản xứ. Ông không thi hành những đường lối cai trị nào có tính cách ngoại lai đối với họ; ông không bòn rút, vơ vét của cải của họ bỏ vào túi riêng. Ông đã để cho lối sống địa phương được phát triển nảy nở. Trốn thoát tự do14/08/2010 02:07' PM Erich Pinchas Fromm (1900-1980) - nhà phân tâm học người Đức được đánh giá là đại biểu ưu tú nhất của trường phái Freud mới. Trong suốt cuộc đời nghiên cứu của mình, ông đã để lại khá nhiều tác phẩm nổi tiếng, trong đó có những cuốn sách được xếp vào hàng best seller ở phương Tây. Và, Trốn thoát tự do (1941) là một trong số đó. Việt Nam khai quốc: Thời đại Hán Việt (chương 2, phần 2)13/08/2010 04:50' PM Chúng ta có thể đoán được rằng những gia đình Lạc hầu cầm quyền nào đã quy thuận Mã Viện thì được cho làm quan chức địa phương của Hán. Những người đó đã tự nguyện tham gia vào những cuộc hôn nhân Hán-Việt. Đàn ông, đàn bà trong những gia đình Lạc cầm quyền cũ, cùng với những người con rể, cháu, hay chồng, được có địa vị tốt để phát huy những điều hay của bản xứ sang các quan chức Hán... Việt Nam khai quốc: Thời đại Hán Việt (chương 2, phần 1)11/08/2010 03:04' PM Sau khi Hai Bà Trưng qua đời, Mã Viện dành gần hết năm 43 để thiết lập nền hành chính của nhà Hán ở đồng bằng sông Hồng và chuẩn bị cho xã hội địa phương tiếp nhận sự cai trị trực tiếp của nhà Hán. Những hoạt động của ông chia làm ba giai đoạn. Giai đoạn một, ông chi phối những gì còn lại từ di sản chính trị nhà tiền Hán. Giai đoạn hai, ông quyết tâm thành lập chế độ Hán ở các cấp hành chính quận và huyện. Giai đoạn ba, ông đưa người dân đi vào chế độ mới bằng hợp ước cá nhân. Biển Đông và hải đảo Việt Nam06/08/2010 10:59' AM Biển Đông là biển lớn nhất trong sáu biển lớn của thế giới với diện tích khoảng 3.447.000 km2. Trong Biển Đông bao la đó, lãnh hải của Việt Nam chiếm khoảng trên 1.000.000 km2. Trước khi bị một số nước xâm chiếm, quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa hoàn toàn thuộc chủ quyền Việt Nam. Ngay từ thế kỷ XVIII nước ta đã thiết lập đội Hoàng Sa để khai thác hải sản và bảo vệ chủ quyền của mình. Việt Nam khai quốc: Hai Bà Trưng và nguồn gốc của từ “Việt Nam” (chương 1, phần 4)05/08/2010 01:49' PM Năm 29 SCN, sau khi nhà Hán phục hưng trở lại, Đặng Nhượng, viên Thứ Sử Giao Chỉ trung thành với nhà Hán trong thời Vương Mãng đã được triều đình khen thưởng. Rất nhiều, và có lẽ là hầu hết những người Hán tị nạn đã quay trở về Bắc. Nhưng cải cách tiến hành ở Việt Nam trong thời Vương Mãng đã được những viên chức có tài thực hiện, những người mà có lẽ đã không đến miền Nam nếu không có rối loạn ở miền Bắc. Bài khác: Triết lý kinh doanh thực tiễn29/01/2010 09:08' AM Muốn kinh doanh bền vững, phải đi từ những điều cơ bản nhất. Trả lời cho câu hỏi: Doanh nghiệp tồn tại vì cái gì? Kinh doanh với mục đích gì và theo cách nào? Matsushita Konosuke – người sáng lập tập đoàn Matsushita, nay là Panasonic, đã triển khai một quan niệm kinh doanh và nhân sinh quan sáng sủa và hiệu quả... Tư duy tối ưu22/01/2010 10:38' AM Nếu làm việc chăm chỉ hơn, tài tình hơn và nhanh nhẹn hơn mà vẫn không có kết quả, bạn phải làm cách nào? Nếu bạn phải dừng lại và suy ngẫm về “những ưu tiên số một” trong đời – một vài điều bạn cho là quan trọng nhất – thì đó là những điều gì? Khúc hoan ca tự do21/01/2010 10:49' AM Trong cuốn tiểu thuyết Alexis Zorba, Con Người Hoan Lạc, Nikos Kazant- zakis đã thật tài tình khi dựng một cặp bài trùng có tính cách trái ngược nhau: người kể chuyện - một trí thức trẻ tuổi, còn bạn đồng hành của anh là một lão công nhân già thất học. Góp phần phân tâm luận về sự hiểu biết khách quan20/01/2010 10:22' AM "Sự hình thành tinh thần khoa học" nói về vùng tối của tư duy khoa học trong thế kỷ 18 mà bản thân nó đã phải vượt qua. Cuộc đời tự học và dạy trung học của Bachelard ảnh hưởng lớn đến tác phẩm này. Do đó, nó không chỉ có giá trị nhận thức luận, mà còn có giá trị bổ túc kiến thức rất cụ thể cho sinh viên, cho các thầy giáo tiểu học và trung học, cho những người chịu trách nhiệm truyền thông về khoa học. Tựa đề của tác phẩm phải được hiểu theo hai nghĩa, ý nghĩa lịch sử và ý nghĩa sư phạm. Tính khả tri của văn hóa15/01/2010 12:17' AM "Tính khả tri của văn hóa" - Bàn về ý niệm phổ biến, ý niệm đồng nhất, ý niệm chung và về cuộc đàm đạo giữa các nền văn hóa là một công trình hết sức quan trọng, có tính chủ đạo và hướng đạo của François Jullien. Tại sao nhiệt đới lại buồn09/01/2010 06:17' AM "Nhiệt đới buồn" (Claude Lévi-strauss, Ngô Bình Lâm dịch, Nguyên Ngọc hiệu đính, NXB Tri Thức, 2009), nếu coi là một hồi ký, thì nó đúng là một hồi ký rất dở và rất gở: chẳng có cuốn hồi ký nào lại được viết ra để rồi tác giả mãi hơn nửa thế kỷ sau mới qua đời. Nếu coi là một cuốn tiểu thuyết, thì tác phẩm in lần đầu năm 1955 này (về phần mình, tác giả mới mất cách đây vài tháng) vẫn quá cỡ kể cả so với một trường giang tiểu thuyết; 7 đại xu hướng 2010 - Sự Vươn Lên Của Chủ Nghĩa Tư Bản Có Ý Thức05/01/2010 01:45' PM Bảy xu hướng lớn làm thay đổi công việc, đầu tư và cuộc sống của bạn. Chúng ta đang đón nhận một sự thay đổi trong kinh doanh – nhìn nhận một cách sâu xa thì đó là thành tựu của công nghệ thông tin và chính trị toàn cầu... Trí tuệ đám đông - Vì sao đa số thông minh hơn thiểu số22/12/2009 09:41' AM Đây là cuốn sách đưa ra một cách kiến giải hoàn toàn mới về sự vận hành thực sự của thế giới. (Sách xuất bản lần đầu năm 2007, tái bản tháng 8/2009). |