 | Thông tin liên quan: Phạm Quỳnh và quá trình tiếp nhận văn hoá phương Tây ở Việt Nam đầu thế kỷ XX11/08/2010 09:04' AM Từ Nguyễn Trường Tộ, Nguyễn Lộ Trạch qua Phan Chu Trinh và các nhà nho hoạt động cho Ðông Kinh Nghĩa Thục, trong giới trí thức - thường gọi là các sĩ phu - của nước ta cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, thấy nổi lên một loạt người có cách nhìn khác đi so với cách giải quyết thông thường các vấn đề xã hội. Hán Nôm với văn hóa Việt Nam hôm nay20/05/2010 08:46' AM Nhiều ý kiến cho rằng, trong khuynh hướng tái sinh những giá trị văn hóa cổ xưa, nguồn tri thức Hán Nôm đang bị trưng dụng một cách vô tội vạ, thậm chí là có nhiều sai lệch đến lố bịch. Ông Trần Trọng Dương, nghiên cứu viên Viện Nghiên cứu Hán Nôm, cho rằng đó là hậu quả của sự “đứt gãy văn hóa”. Vì sao Phạm Quỳnh đặt tên báo là Nam Phong và thường dùng bút hiệu Thượng Chi?20/01/2010 03:12' PM Ngay trong số 1 ra tháng 7 năm 1917 của Nam Phong Văn học-Khoa học tạp chí, Phạm Quỳnh đã viết Mấy nhời nói đầu giới thiệu nội dung tạp chí mới xuất bản. Cuối phần I, ông cảm xúc thốt lên lời cảm thán: “Ôi! trong sách có câu: Gió phương nam ấm áp, khá lấy giải được cái lòng hờn giận của dân ta! (Chúng tôi nhấn mạnh – PT) Ước gì bản báo cũng khiến được các bạn đọc báo có cái cảm giác như cái cảm giác gió Nam Phong! Bởi thế, đặt tên báo.” Muốn sống...15/12/2009 04:07' PM Tên đại bợm giết người lấy của, chĩa súng sáu vào người ta, nói: “Muốn sống thì đưa tiền đây!”; một trăm người đến chín-mươi-chín-người đành mất tiền cho khỏi chết. “Sinh-mệnh” với “hà-bao”, dầu người ta không ai là không thiết tha cái hà-bao đựng tiền, nhưng ai ai cũng còn trọng cái sinh-mệnh ở đời hơn Chuyện một đêm một ngày15/12/2009 03:00' PM Bấy giờ vào khoảng 9 giờ tối. Dùng cơm tối xong, tôi đương ngồi trong tư thất Bộ Lại, nói chuyện với con trai thứ tôi là Phạm Bích. Bấy giờ nghe tiếng súng nổ lung tung. Ra sân thì trông thấy đèn chiếu lấp loáng ở bên kia sông, và tiếng nổ là tiếng súng liên thanh như tiếng pháo, khi ở phía trên khi ở phía dưới. Bài diễn thuyết bằng chữ quốc văn31/10/2009 06:27' AM Ban Văn học Hội Khai Trí chúng tôi muốn nhân ngày giỗ này đặt một cuộc kỉ niệm để nhắc lại cho quốc dân nhớ đến công nghiệp một người đã gây dựng cho quốc âm ta thành văn chương, để lại cho chúng ta một cái "hương hỏa" rất quý báu, đời đời vẻ vang cho cả giống nòi. Chữ nho với văn quốc ngữ27/10/2009 07:21' AM Quốc văn là phần chính, chữ Hán là phần thuộc; quốc văn là cứu cánh, chữ Hán là phương tiện, nhưng là cái phương tiện rất cần, không có không được Cụ Quỳnh khóc cụ Vĩnh06/10/2009 03:34' PM Nguyễn Văn Vĩnh chủ bút Đông Dương tạp chí – Phạm Quỳnh chủ bút Nam Phong tạp chí. Cuộc đời hai Cụ mỗi người một vẻ, nhưng số phận lại có chỗ na ná nhau, với người đời, kẻ đặt lên cao, người hạ xuống thấp. Có điều là thời gian xem ra đang ủng hộ hai Cụ. Chẳng biết, sinh thời, hai cụ gắn bó với nhau tới đâu, nhưng cứ vào bài thơ Cụ Quỳnh khóc Cụ Vĩnh năm 1936 thì tình bạn của hai cụ chắc là thắm thiết lắm. Tặng phẩm của ngôn ngữ: Thói “ăn” nếp “ở” của người Việt qua cách nói06/10/2009 08:57' AM Không biết có phải do hoàn cảnh thiếu ăn thiếu mặc từ xa xưa, mà người Á đông nói chung, người Việt nói riêng, đặc biệt quan tâm tới miếng ăn. Ăn không phải chỉ để sinh tồn, mà còn để hưởng thụ: Ăn đứng đầu tứ khoái. Ăn cho sướng miệng cái đã, mấy chuyện khác tính sau. Ngôn ngữ và văn hoá29/09/2009 03:00' PM Văn hoá là gì? Đặc trưng cơ bản nhất của văn hoá là gì? Và hơn nữa cái gì làm nên bản sắc văn hoá của nhân dân ta? Văn học, chính trị16/09/2009 09:47' AM Hai phạm vi văn học và chính trị, tuy có thể đắp đổi cho nhau, nhưng thực là cách biệt nhau hẳn. Có thể đắp đổi cho nhau là nhà chính trị mà có văn học thời được sắc sảo thêm ra, như trên đã nói, và nhà văn học mà làm chính trị thời cũng có lẽ được giàu thêm sự kinh nghiệm ra, tăng thêm được tài liệu cho sự nghiệp văn chương của mình. Nhưng mà vốn là hai phạm vi cách biệt nhau, vì khuynh hướng về hai mục đích khác nhau. Tiếng An-nam20/08/2009 07:50' AM Lại còn một điều khẩn–yếu, là muốn cho văn quốc–ngữ thành văn–chương hay, khỏi mang tiếng nôm na mách qué, cách đặt câu, cách viết, phép chấm câu, phải dần dần đặt cho thành có lệ có phép; mà lệ phép thì phải theo ý nhiều người đã thuận, chớ đừng ai tự đắc lối của mình là phải, đem ý riêng ra sửa đổi thói quen. Phải nhớ câu: phàm ngôn–ngữ nước nào cũng vậy, dầu tài thánh trạng một người cũng chẳng làm ra được. Phạm Quỳnh - Tiểu luận viết bằng tiếng Pháp trong thời gian 1922-193208/08/2009 06:52' AM Cái văn bản Phạm Quỳnh mấy chục năm qua đã thoát hình hài trần thế để được thoả sức yêu cái đẹp thiên giới, nơi đó không còn triết học và thực dụng, không còn lo âu và toan tính, không còn ảo tượng và vỡ mộng. Văn bản đó sẽ để lại trong lòng người những tác phẩm như thế nào đây? Điều đó hoàn toàn là của riêng bạn đọc. Mấy lời giới thiệu phiến diện này cũng chỉ là một trong vô vàn tác phẩm mà thôi. Sách dạy tiếng Việt và tiếng Việt thật05/08/2009 02:54' PM Đến bao giờ sách giáo khoa tiếng Việt mới dạy thứ tiếng Việt mà hơn 70 triệu người Việt đang nói hàng ngày, chứ không phải thứ “tiếng Việt” giả tạo sao chép một cách máy móc từ sách cũ dùng để dạy tiếng Pháp cho dân thuộc địa? Chữ Nho với văn quốc ngữ29/07/2009 12:17' AM Văn quốc ngữ do Hán văn mà ra, không thể dời khuôn phép của Hán văn mà thành lập được; nhưng hiện nay chữ Hán không mấy người biết nữa, làm thế nào cho quốc văn thành được? Có thể bỏ hết chữ Hán mà chỉ dùng tiếng Nôm được không? |
Không thể chối cãi là hiện giờ đang có một ngôn ngữ mới của nước Nam đa dạng hơn, uyển chuyển hơn, đủ khả năng hơn cho sự diễn tả các tư tưởng mới và các quan niệm trừu tượng so với ngôn ngữ đó cách đây mười lăm, hai mươi năm. Ảnh hưởng của văn hóa Pháp một bên, và một bên khác là sự phát triển của thư viện và báo chí quốc ngữ đã giúp rất nhiều cho việc tạo ra thứ ngôn ngữ mới này, nó vừa là kết quả vừa là biểu tượng của sự tiến hóa tinh thần ở xứ chúng tôi từ một phần tư thế kỷ qua. Có một thực tế là các nhà nho xưa của chúng tôi chỉ viết bằng tiếng Hán. Đến khi họ viết Nôm, tức một thứ tiếng dân tộc, thì văn phong vẫn theo khuôn tiếng Hán. Thế nhưng tiếng Hán mà chúng tôi học không phải là bạch thoại mà là văn ngôn, một thứ tiếng cổ điển gần như là tử ngữ. Vậy là cha ông chúng tôi đã xây dựng một ngôn ngữ sống theo mô hình một ngôn ngữ chết, nó hết sức chân xác, ngữ pháp và cú pháp được thu lại ở cách biểu đạt đơn giản nhất hạng, vì thế mà các sản phẩm của họ đều có vẻ không thực, ngay những sản phẩm nào xuất sắc, nổi trội nhất thì cũng chỉ là sự đẽo gọt hơn là sự thể hiện văn học những điều sâu kín hơn và bột phát hơn trong tâm hồn của giống nòi.
Trong hoàn cảnh đó, tiếng Nam không thể phát triển được như một thứ tiếng văn học hay tiếng văn hóa, và nằm trong cái khuôn cứng nhắc của tiếng Hán với phép biền ngẫu và âm vận chặt chẽ, với cách viết bóng gió và tượng trưng, nó chỉ có thể sản sinh ra những bài thơ bác học rắc rối, kiểu cách, dùng nhiều chữ cổ, đó là thú tiêu khiển của các bậc tao nhân mặc khách hơn là sự nảy nở một nền văn học thực sự bằng ngôn ngữ dân tộc.
Ngược lại, cái nền văn học dân tộc này lại được vun xới trong nhân dân qua các nhà thơ dân gian, giống như những người hát rong ở Âu châu thời xưa, cất lên lời ca tiếng hát theo thị hiếu và tiếng nói của dân chúng. Khẩu ngữ dân gian mỗi ngày càng phong phú thêm những cách thức nói năng độc đáo, đôi khi là những khám phá thực sự, khéo léo và lý thú, và cả một nền văn học truyền khẩu mà chủ yếu là thơ ca đã hình thành gần như tự phát, không hề có sự giúp sức của giới bác học. Nền văn học này gồm các ca dao, tục ngữ, ngạn ngữ, châm ngôn, những bài thơ ngắn, những so sánh, phúng dụ..., nó rất phong phú và đẹp đẽ, chứng tỏ tiếng Nam không nghèo như người ta lầm tưởng. Nhưng sinh ra từ dân chúng nên nền văn học là cũng lộ ra cái nguồn gốc dân dã của mình, nó thiếu đi sự tao nhã là dấu hiệu của một văn hóa tinh tế. Nó còn xa mới tạo nên được một nền văn học dân tộc đúng nghĩa, nền văn học ấy phải là sự nghiệp của tầng lớp có học đứng ra tổ chức, rèn giũa tiếng nói dân gian, làm cho nó mềm dẻo, hoàn thiện, và khai thác được hết mọi sự phong phú của nó.
Như vậy, một bên là thứ ngôn ngữ nhân tạo đầy rẫy những kiểu cách vay mượn từ tiếng Hán, đồ theo văn phong Hán, đó là ngôn ngữ của nhà nho. Một bên là tiếng nói dân gian thú vị và phong phú, sinh ra từ chốn thôn quê đồng ruộng, nhưng còn hơi thô phác, còn quá cụ thể, chưa vươn lên được cao hơn tầm những cảm quan, chưa diễn tả được những tư tưởng có phần cao siêu, tóm lại là một thứ tiếng nói có thể nói là còn hỗn loạn, ngoài khuôn phép.
Đấy là tình trạng tiếng nước Nam khi chúng tôi bắt tay vào đổi mới nó một cách hệ thống.
 |
|
Phạm Quỳnh - hiệu Thượng Chi, bút danh: Hoa Đường, Hồng Nhân - là một nhà văn hóa, nhà báo, nhà văn và quan đại thần triều Nguyễn (Việt Nam). Ông là người đi tiên phong trong việc quảng bá chữ Quốc ngữ và dùng tiếng Việt - thay vì chữ Nho hay tiếng Pháp - để viết lý luận, nghiên cứu. Ông chủ trương chiến đấu bất bạo động nhưng không khoan nhượng cho chủ quyền độc lập, tự trị của Việt Nam, cho việc khôi phục quyền hành của Triều đình Huế trên cả ba kỳ (Bắc, Trung, Nam), chống lại sự bảo hộ của Pháp và kiên trì chủ trương chủ nghĩa quốc gia với thuyết Quân chủ lập hiến.
Các tác phẩm chính:
- Thượng Chi văn tập (5 tập) (Bộ Quốc gia giáo dục, Sài Gòn, 1962) - Pháp du hành trình nhật ký (NXB Hội Nhà văn - H, 2004) - Tiểu luận viết bằng tiếng Pháp trong thời gian 1922 - 1932 (NXB Tri thức, H,2007) - Một tháng ở Nam Kỳ - Mười ngày ở Huế - Luận giải về văn học và triết học (Nxb. Văn hoá Thông tin và Trung tâm văn hoá - ngôn ngữ Đông Tây xuất bản, H, 2003) - Hoa Đường tùy bút
>> Trang tác giả: Phạm Quỳnh
|
Việc đầu tiên phải làm là hợp nhất hai ngôn ngữ của nhà nho và của dân chúng, thông tục hóa ngôn ngữ nhà nho bằng cách nhúng nó vào những nguồn mạch sâu xa của khâu ngữ, nâng cao ngôn ngữ dân chúng bằng cách thêm vào nó một số ngữ điệu văn chương và bồi đắp cho nó tất cả vốn từ Hán-nôm đã được công nhận sử dụng. Công việc này đòi hỏi phải khéo léo và có mức độ, đó là một sự cải biến kiên trì mà chỉ có thể làm được khi hiểu biết sâu sắc cả hai ngôn ngữ, sự giàu có tiềm ẩn trong ngôn ngữ này và quy tắc bất biến của ngôn ngữ kia. Đồng thời cần tránh sự thô thiển của khẩu ngữ và sự khoa trương của văn chương bác học để cuối cùng tạo nên một thứ ngôn ngữ vừa có cái thanh lịch của nhà nho vừa có cái mạnh mẽ của dân chúng.
Nhưng thứ ngôn ngữ sinh ra từ sự hợp nhất hai yếu tố dân gian và bác học đó, nếu trong quá trình tự hoàn thiện mà có thể trở thành một ngôn ngữ văn học thực sự, thì như vậy vẫn chưa đủ để nó làm được nhiệm vụ của một ngôn ngữ văn hóa. Nó vẫn còn thiếu vốn từ kỹ thuật và triết học để dịch và diễn đạt các tư tưởng và quan niệm hiện đại. Làm thế nào lấp được chỗ trống đó? Có thể tiến hành những sự vay mượn từ cả tiếng Hán lẫn tiếng Pháp. Tiếng Hán đơn âm và gần với tiếng Nam hơn tiếng Pháp đa âm. Các từ Hán là từ biểu ý chỉ cần chữ ghi lại không cần đến phát âm; khi chuyển qua tiếng Nam, chúng được phát âm theo kiểu tiếng Nam, phục tùng mọi yêu cầu ngữ âm của tiếng Nam và do đó trở thành những từ của tiếng Nam. Mặt khác, các từ mới tiếng Hán hay Hán-Nhật thường rất hay được cấu tạo bằng cách ghép hai hay nhiều chữ đã biết sao cho nếu một từ là hoàn toàn mới thì các yếu tố tạo nên nó đã có trong ngôn ngữ thông dụng, nên việc hiểu nghĩa và ghi nhớ nó được dễ hơn rất nhiều. Bởi vì tiếng Nam, mà nguồn gốc rất phức tạp và dẫu sao cũng không phải là phát xuất từ tiếng Hán như người ta thường nghe thực tế vẫn đầy rẫy những từ tiếng Hán được du nhập qua nhiều thế kỷ và được hòa trộn vào đó ngay trong cách phát âm. Trong khoảng mười ba nghìn từ ở từ điển Génibrel thì hơn một nửa là từ gốc Hán.
Như vậy những sự vay mượn tiếng Hán không có gì đáng ngạc nhiên hết; đó là một hiện tượng lâu đời và giới ngữ học nước Nam đã biết đến, nó luôn diễn ra theo cùng một quy trình: phát âm từ hay chữ theo kiểu tiếng Nam và đưa chúng vào câu tiếng Nam theo các quy tắc ngữ pháp, cú pháp tiếng Nam. Có thể nói, đó là một hiện tượng nhập tịch ngôn ngữ thường hay xảy ra và bản thân nó rất lạ lùng, có thể không gặp ở đâu khác ngoài tiếng Nam trong sự vay mượn tiếng Hán. Bởi vì một từ mới mượn ở tiếng Hán và phát âm theo kiểu tiếng Nam chuyển ngay tức khắc vào một ngôn ngữ mà ở đó nó gặp lại từng yếu tố tạo nên nó và đã có ở đó dưới dạng riêng lẻ, hoặc dưới dạng một bộ phận của một từ phức khác đã biết, trường hợp này không có ở một ngôn ngữ nào khác. Thí dụ từ trực giác dùng để dịch từ "intuition" (trong thuyết intuitionisme của Bergson) là gồm hai từ đã biết trong tiếng Nam: trực nghĩa là "thẳng" và giác nghiã là “biết”; một sự “biết thẳng”, không cần phải qua các thao tác thông thường của suy lý và logic, và chính đó là đặc điểm của "intuition".
Như vậy là từ ngữ mới của tiếng Hán có ưu điểm khiến cho người Nam dù ít học cũng dễ dàng hiểu được ngay. Chỉ gồm hai từ đơn âm tiết, nó tiện lợi hơn nhiều so với dùng lời lẽ thô sơ diễn giải dài dòng nghĩa của "intuition" hay phiên âm từ đó sang âm tiếng Nam làm nghịch tai không chịu nổi.
Tôi nói hơi dài những chi tiết này để làm rõ hơn những sự vay mượn của tiếng Nam đối với tiếng Hán, những vay mượn tiện lợi, cần thiết và hữu ích. Cố nhiên là không nên lạm dụng chúng, không vay mượn bừa bãi. Ở đây có vấn đề mức độ và khéo léo, những phẩm chất mà mọi nhà văn chân chính đều phải có. Viết câu tiếng Nam đầy những từ Hán khó hiểu cũng lố bịch như là bài trừ tất cả các từ Hán để chỉ dùng từ Nam không thôi, vả chăng việc này là không thể được bởi vì như đã nói, một nửa tiếng Nam là có nguồn gốc hay xuất xứ từ tiếng Hán. Quy tắc cần luôn có là nếu có thể dịch được những tư tưởng mới bằng các từ ngữ tiếng Nam đủ rõ ràng và sáng sủa thì không cần phải dùng đến các từ Hán và khi phải vay mượn các từ Hán thì nên mượn những từ gồm những yếu tố đã biết trong ngôn ngữ thường dùng.
Như vậy trong việc xây dựng vốn từ mới của tiếng Nam để dịch các tư tưởng và quan niệm mới, những sự vay mượn tiếng Hán là cần thiết. Từ nửa thế kỷ nay, trước hết là người Nhật - họ cũng dùng tiếng Hán, sau đến người Trung Hoa, đã dịch hoặc phóng tác ra tiếng nước họ thột số lượng lớn các sách Âu châu liên quan đến tất cả các ngành tri thức Tây phương: khoa học, triết học, nghệ thuật, xã hội học, luật học, kinh tế, chính trị, v.v... Nhờ đó họ đã tạo ra một kho từ vựng hiện đại rất phong phú cho chúng ta tha hồ vay mượn.
Nhưng chỉ mượn tiếng Hán thôi chưa đủ. Theo quy tắc chung, chúng cần thiết cho vốn từ triết học, pháp lý, cho hệ thuật ngữ của cái mà chúng ta có thể gọi là các khoa học luân lý và chính trị; nhưng đối với từng khoa học riêng biệt mỗi khi có thể thì dịch và cần thì viết lại từ tiếng Pháp với những cách thức của tiếng Nam tốt hơn là dùng những cách dịch như tiếng Hán. Việc này còn tùy thuộc vào sự sáng suốt của nhà văn và dịch giả biết lựa chọn và không quá thiên về phía này hay phía khác.
Đấy là cách tôi hiểu công việc đổi mới tiếng Nam và cách thức tôi đã đóng góp vào công cuộc đó. Nhưng có một điều tôi muốn nhấn mạnh: đó là văn xuôi mới của nước Nam - vì sự sáng tạo một thứ văn xuôi của nước Nam là mối quan tâm chính của tôi, còn thơ thì đã đạt đến đỉnh cao trong những tác phẩm như Kiều rồi - rõ ràng là văn xuôi mới đang đi theo mẫu của văn xuôi Pháp và đang tìm cách vay mượn ở đó một số phẩm chất: sáng sủa, chính xác, logic, thanh nhã, dí dỏm và hài hước. Nó thận trọng tránh những thứ của văn phong Hán: biền ngẫu, đăng đối, rườm rà, suông nhạt, trịnh trọng. Nó sẽ ít mang tính tổng hợp hơn khi bỏ qua những sự ám chỉ và khuôn sáo mà mang tính phân tích nhiều hơn khi đi vào miêu tả chi tiết các hoàn cảnh và con người, các phương diện bên ngoài và trạng thái tâm lý bên trong. Nếu nó kiên trì con đường này, nó sẽ hợp nhất thành công tinh thần Pháp với tinh thần Nam: cái chất Pháp mang lại cho cái chất Nam sự sáng sủa, tính duy lý, còn cái chất Nam trong cuộc tiếp xúc này chỉ mất đi sự mơ hồ và thiếu chính xác, mất đi sự thiếu duy lý và logic, mà vẫn giữ lại được tất cả những ưu điểm vốn có: lương tri, hài hước, cân bằng, chừng mực, một chút gì nhọn sắc đối với mọi sư ngu ngốc và kiêu căng của con người.
Thực ra từ ít lâu nay người ta đã tung ra một lối viết mới có ý muốn học theo văn phong báo chí Pháp, song đó thường mới chi là viết một cách khoa trương hay biếm họa sơ sài. Lối viết đó không có cấu trúc, không có cú pháp; các câu cụt, các đoạn nối nhau không theo một logic nào, chi tuân theo cảm xúc thoáng qua hơn là những ý tưởng chính xác rõ ràng; một lối viết kỳ cục, dị dạng, tăm tối, khó hiểu, hoàn toàn trái với cái tinh thần Pháp. Nhưng đấy chỉ là cái mốt rồi sẽ qua đi, và tôi tin rằng ngôn ngữ mới của nước Nam sẽ vẫn đi theo truyền thống lành mạnh của sự sáng sủa Pháp và lương tri Nam.
(1931) Nguồn:
Tiểu luận viết bằng tiếng Pháp trong thời gian 1922 - 1932 - NXB Tri thức Số lượt đọc:
597
-
Cập nhật lần cuối:
04/07/2009 02:25:38 PM
Ý kiến của bạn về bài viết:Về vấn đề giải nghĩa Tục ngữ25/08/2010 07:02' AM Chúng ta có một gia tài tục ngữ thật đồ sộ với khoảng trên dưới năm sáu nghìn đơn vị. Lý thú hơn nữa là hầu như đơn vị nào trong cái di sản đó cũng đều mang dáng dấp một châm ngôn, truyền đạt một triết lý đậm đà chất hiền minh dân gian, và cũng đều được diễn đạt bằng những phương tiện ngôn từ vốn làm nên những tinh hoa của tiếng Việt. Cái khối ngữ liệu bề thế và quý giá cả về nội dung lẫn hình thức ấy, tiếc thay, hiện vẫn đang bị lãng phí một cách oan uổng, vì tới tận bây giờ hàng loạt câu hết sức thông dụng vẫn chưa được thuyết minh ngữ nghĩa đủ minh xác... Tiếng Việt có mơ hồ, thiếu chính xác?26/07/2010 09:27' AM Đã từng có quan niệm “tiếng Việt là thứ tiếng của thi ca, tiếng Anh – thứ tiếng của thương mại, tiếng Pháp – thứ tiếng của ngoại giao”. Quan niệm xưa cũ này vừa khen lại vừa chê tiếng Việt: một thứ ngôn ngữ nhiều hàm ý thích hợp với đặc thù “ý tại ngôn ngoại” của ngôn ngữ thơ ca, nhưng cũng chính vì thế mà thiếu chính xác, mơ hồ trong diễn đạt. Tản mạn về Tiếng Việt03/06/2010 02:38' PM 1. Có gì mâu thuẫn không khi ở Mỹ một thời gian thì lại đâm ra cảm thấy buồn khi đọc báo Việt in ấn xuất bản trong nước như Tuổi Trẻ, Thanh Niên,... mà cứ dùng nhiều tù tiếng Anh như: “tuổi teen”, ăn mặc rất “hot”, M.C này, M.C nọ,... ôi đủ thứ? Hán Nôm với văn hóa Việt Nam hôm nay20/05/2010 08:46' AM Nhiều ý kiến cho rằng, trong khuynh hướng tái sinh những giá trị văn hóa cổ xưa, nguồn tri thức Hán Nôm đang bị trưng dụng một cách vô tội vạ, thậm chí là có nhiều sai lệch đến lố bịch. Ông Trần Trọng Dương, nghiên cứu viên Viện Nghiên cứu Hán Nôm, cho rằng đó là hậu quả của sự “đứt gãy văn hóa”. Tiếng Việt vốn trong sáng mà…23/04/2010 12:28' PM Một ngôn ngữ đã trưởng thành như tiếng Việt hoàn toàn có khả năng xác lập lại sự trong sáng của nó ngay cả tại những khúc quanh chật hẹp và nguy hiểm nhất của lịch sử. Cho nên cái làm cho tiếng Việt đứng trước nguy cơ không trong sáng không phải do bản thân tiếng Việt, mà do cách sử dụng tiếng Việt phi quy chuẩn và chính sách ngôn ngữ không rõ ràng. “Tôi dịch triết học với mong muốn VN có ngôn ngữ triết học”06/04/2010 09:58' AM Giải thưởng này càng cao quý đối với tôi vì nó mang tên của một nhà trí thức, nhà tư tưởng kiệt xuất của dân tộc ta mà tôi hằng ngưỡng mộ - Phan Châu Trinh. Liên hệ so sánh Phan Châu Trinh với V.Soloviev, tôi bất ngờ nhận ra hơn một nét tương đồng, hơn một điểm gần gũi giữa hai trí tuệ lớn và hai lương tâm lớn này. Cả Soloviev lẫn Phan Châu Trinh đều cho chúng ta những tấm gương sáng không phai mờ về chủ nghĩa yêu nước đích thực. Bàn thêm về một số thuật ngữ triết học, chính trị-xã hội có nguồn gốc từ tiếng nước ngoài28/03/2010 03:35' PM Bài viết này tôi đi sâu hơn về các thuật ngữ chỉ tên và hình thức nhà nước; cách đặt tên của các học thuyết, trường phái, qua đó làm rõ nguồn gốc của chúng, chỉ ra một số bất cập trong việc phiên dịch các thuật ngữ này trong tiếng Việt... Nên biết chữ Nôm để hiểu được nền văn học cổ09/03/2010 03:18' PM Học giả Nguyễn Quảng Tuân là tác giả của hơn bốn mươi đầu sách biên khảo về cổ văn, đặc biệt là về Truyện Kiều. Ấn tượng đầu tiên khi ghé thăm tư gia của “nhà Kiều học” này là sách. Bài khác: Nói nhiều ngôn ngữ khác nhau30/06/2009 02:04' PM Tuần qua, đời sống bình lặng của văn chương Việt Nam bỗng trở nên sôi động với một “vụ án” được gọi tên là “đạo thơ”. “Đạo”, mạo danh… vốn không phải chuyện mới, nhưng lần này nó lại liên quan đến giấc mơ đưa văn chương Việt Nam ra thế giới. Về một số thuật ngữ triết học, chính trị - xã hội có nguồn gốc từ tiếng nước ngoài22/06/2009 10:20' AM Trao đổi về một số thuật ngữ triết học, chính trị - xã hội có nguồn gốc từ tiếng nước ngoài, trong bài viết này, tác giả đã khẳng định cách phiên âm tên địa phương và tên người ra tiếng Việt tuy đã có nhiều đổi mới, nhưng vẫn còn chưa thống nhất; việc phiên dịch các thuật ngữ thì một số thiếu chính xác, một số sai cơ bản, một số khác tuy không sai nhưng cũng cần phải tìm hiểu mới có thể sử dụng đúng được. Văn quốc ngữ05/06/2009 04:01' PM Vấn đề quan trọng nhất trong nước ta ngày nay là vấn đề văn quốc ngữ. Vấn đề ấy có giải quyết được thì sự học mới có thể tấn tới, dân trí mới có thể mở mang, cuộc tiến hóa sau này mới có thể mở mang được. Tiếng Tây-Tiếng ta19/05/2009 10:27' AM Đất nước ta đang ở thời kỳ mở rộng giao lưu với các nước đã khiến tiếng Việt tiếp nhận ồ ạt nhiều khái niệm mới bao hàm những nội dung ngữ nghĩa mới của những từ ngữ đang dùng hoặc từ ngữ mới . Điều nhận ra trước tiên là sự xuất hiện của những từ nước ngoài, những tên riêng nước ngoài không gì cản nổi trên các trang báo, trên các kênh truyền hình, các văn bản viết và trên các bảng hiệu quảng cáo... Cái tất yếu thời toàn cầu hóa14/05/2009 04:41' PM Có thể những người chủ trương “Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt” sẽ vô cùng bất bình, thậm chí phẫn nộ khi đứng trước những biểu hiện 100% tiếng nước ngoài hay nghe, xem đâu đó những từ vay mượn từ tiếng Anh như: festival ( liên hoan), bulding, villa ( nhà cao tầng, biệt thự), sale off ( hạ giá), fair play (chơi đẹp),… Song đối với số khác, hiện tượng này đơn giản chỉ là một phần tất yếu trong thời toàn cầu hóa. Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt14/05/2009 03:16' PM Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh, Thủ tướng Phạm Văn Đồng luôn chú trọng việc giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt và giáo dục nhân dân phải làm cho tiếng nói, chữ viết ngày càng thêm đẹp, thêm phong phú, hiện đại… Một vấn đề ngôn ngữ học15/04/2009 04:52' PM Sự cuồng tín đối với tiếng mẹ đẻ này khởi từ cuộc xung đột nổi tiếng chia rẽ nước Bỉ giữa người Flamand và người Wallon. Cũng còn thấy nó ở đáy sâu của phong trào ly khai đã và đang khuấy động miền Alsace vừa giành lại được. Một tác giả nổi tiếng, ông RENÉ GILLOUIN, đã viết cả một cuốn sách về những xung đột ngôn ngữ này, cuốn sách nhan đề Từ Alsace đến Flandre: tính thần bí ngôn ngữ học. Quả thực, trong mối liên hệ của con người đối với tiếng mẹ đẻ của họ có một thứ tính chất thần bí và đó là một trong những thế lực đang tác động tới thế giới hiện đại. Cuộc tiến hóa của tiếng nước Nam (*)09/04/2009 03:53' PM Thưa quý ngài, khi hai người không hoà thuận với nhau, các ngài bảo đó là họ không nói cùng một thứ tiếng. Chúng tôi thì nói: ngôn-ngữ-bất-đồng (không có cùng một ngôn ngữ). Đối với các cá nhân đã vậy; đối với các dân tộc càng như vậy. Để đi sâu vào tâm thức của một dân tộc, để có thể thiện cảm với nó, không gì bằng sự hiểu biết ngôn ngữ. |